Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
22 Sau khi dân chúng được ăn no nê, Đức Giê-su liền bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia trước, trong lúc Người giải tán dân chúng. 23 Giải tán họ xong, Người lên núi riêng một mình mà cầu nguyện. Tối đến Người vẫn ở đó một mình. 24 Còn chiếc thuyền thì đã ra xa bờ đến cả mấy cây số, bị sóng đánh vì ngược gió. 25 Vào khoảng canh tư, Người đi trên mặt biển mà đến với các môn đệ. 26 Thấy Người đi trên mặt biển, các ông hoảng hốt bảo nhau : “Ma đấy !”, và sợ hãi la lên. 27 Đức Giê-su liền bảo các ông : “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ !” 28 Ông Phê-rô liền thưa với Người : “Thưa Ngài, nếu quả là Ngài, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài.” 29 Đức Giê-su bảo ông : “Cứ đến !” Ông Phê-rô từ thuyền bước xuống, đi trên mặt nước, và đến với Đức Giê-su. 30 Nhưng thấy gió thổi thì ông đâm sợ, và khi bắt đầu chìm, ông la lên : “Thưa Ngài, xin cứu con với !” 31 Đức Giê-su liền đưa tay nắm lấy ông và nói : “Hỡi kẻ kém lòng tin ! Sao lại hoài nghi ?” 32 Khi thầy trò đã lên thuyền, thì gió lặng. 33 Những kẻ ở trong thuyền bái lạy Người và nói : “Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa !”
34 Khi qua biển rồi, thầy trò lên đất liền, vào Ghen-nê-xa-rét. 35 Dân địa phương nhận ra Đức Giê-su, liền tung tin ra khắp vùng, và người ta đem tất cả những kẻ đau ốm đến với Người. 36 Họ nài xin Người cho họ chỉ sờ vào tua áo choàng của Người thôi, và ai đã sờ vào thì đều được cứu chữa.
Vững Tin Trong Sóng Gió Cuộc Đời
(Gr 28:1-17; Mt 14:22-36)
Bài đọc 1 hôm nay trình bày cho chúng ta nghe câu chuyện về dân Israel trong thời lưu đày ở Babylon. Trong lúc lưu đày, ước muốn của mọi người là được trở về lại quê cha đất tổ của mình để xây dựng lại nhà Đức Chúa, xây dựng lại nhà cửa làng mạc. Vì niềm hy vọng này, nhiều ngôn sứ giả đã xuất hiện, mang cho dân niềm hy vọng không thật. Niềm hy vọng này có mục đích thoả mãn ước mơ tự nhiên của dân Israel hơn là làm theo thánh ý Thiên Chúa. Chúng ta thấy điều này trong lời tuyên sấm của ngôn sứ Khanangia, con ông Átdua, người Ghípôn (Gr 28:1): “Đức Chúa các đạo binh, Thiên Chúa Israel, phán như sau: Ta sẽ bẻ gãy ách của vua Babylon. Còn hai năm nữa, Ta sẽ đem về nơi này mọi đồ dùng trong Nhà Đức Chúa, mà Nabucôđônôxo, vua Babylon, đã lấy ra khỏi nơi này đưa sang Babylon. Cả Giơkhongia, con của Giơhôgiakim, vua Giuđa và tất cả những người Giuđa bị lưu đày sang Babylon, chính Ta sẽ dẫn chúng về nơi đây – sấm ngôn của Đức Chúa vì Ta bẻ gãy ách của vua Babylon!” (Gr 28:2-4). Nhìn từ khía cạnh tự nhiên, không có những lời nào mang lại niềm vui và hy vọng cho một dân đang sống dưới ách nô lệ. Nhưng nhìn từ khía cạnh siêu nhiên, đây không phải là đường lối của Thiên Chúa. Chi tiết này cho chúng ta thấy trong cuộc sống có những thứ nhìn từ khía cạnh con người thì rất hợp lý. Nhưng khi nhìn từ một khía cạnh toàn diện hơn, nhất là từ khía cạnh thiêng liêng, những gì hợp lý của con người trở thành vô nghĩa trước mặt Thiên Chúa.
Đứng trước lời sấm của Khanangia, Giêrêmia chỉ ra đâu là tiêu chuẩn để biết lời sấm đến từ Đức Chúa, đó là sự ứng nghiện của lời tuyên sấm Ngôn sứ Giêrêmia nói: “Amen ! Ước gì Đức Chúa làm như thế! Ước gì Người thực hiện các điều ông vừa tuyên sấm, và đưa các đồ dùng trong Nhà Đức Chúa cũng như tất cả những người lưu đày từ Babylon trở lại nơi này. Nhưng xin ông lưu ý đến lời tôi sắp nói cho ông và cho toàn dân nghe đây: Các ngôn sứ có trước tôi và ông từ ngàn xưa đã tuyên sấm về nhiều xứ sở và vương quốc hùng mạnh, là sẽ có chiến tranh, tai ương và ôn dịch; còn ngôn sứ nào tuyên sấm có bình an, thì chỉ khi nào lời ngôn sứ ấy ứng nghiệm, ông mới được nhìn nhận là ngôn sứ được Đức Chúa thật sự sai đến!’” (Gr 28:6-9). Trong cuộc sống, chúng ta cũng nghe nhiều người nói “lời sấm,” đó là những lời nói với nhau trong đời sống thường ngày. Sự thật của những lời này chỉ được chứng minh qua năm tháng khi chúng được tỏ lộ ra trong hành động của đời sống thường ngày. Chúng ta cần làm cho lời nói và việc làm của chúng ta đi đôi với nhau.
Điều cuối cùng chúng ta có thể suy gẫm trong bài đọc 1 là số phận của những người sử dụng sự dối trá để làm cho người khác tin vào mình và sống trong niềm hy vọng sai lạc: “Khi ấy, ngôn sứ Giêrêmia nói với ngôn sứ Khanangia: ‘Ông Khanangia, hãy nghe đây, Đức Chúa chẳng hề sai ông, thế mà ông lại làm cho dân này tin vào điều dối trá. Bởi thế, Đức Chúa phán như sau: Này, Ta sẽ bứng ngươi ra khỏi mặt đất: Ngay năm nay, ngươi sẽ phải chết vì ngươi đã hô hào nổi loạn chống Đức Chúa.’ Ngôn sứ Khanangia đã chết vào tháng bảy năm ấy” (Gr 28:15-17). Số phận của những người dùng danh nghĩa Thiên Chúa để mang lại cho người khác những niềm vui và hy vọng giả tạo sẽ rất khóc liệt. Nếu chúng ta thật lòng với chính mình, cũng nhiều lần trong cuộc sống chúng ta cũng mang cho người khác niềm hy vọng ảo. Chúng ta sợ nói sự thật; chúng ta không dám nói cho người khác điều Thiên Chúa muốn, mà chỉ nói những gì người khác muốn nghe. Chúng ta sẽ cùng chung số phận với những ngôn sứ giả nếu chúng ta không can đảm nói lời Đức Chúa.
Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại sự kiện Chúa Giêsu đi trên mặt nước. Câu chuyện này cũng được Thánh Máccô (6:45-52) và Thánh Gioan (6:15-21). Câu chuyện bắt đầu với việc kể ra những hoạt động của Chúa Giêsu sau phép lạ hoá bánh ra nhiều: “Sau khi dân chúng được ăn no nê, Đức Giêsu liền bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia trước, trong lúc Người giải tán dân chúng. Giải tán họ xong, Người lên núi riêng một mình mà cầu nguyện. Tối đến Người vẫn ở đó một mình. Còn chiếc thuyền thì đã ra xa bờ đến cả mấy cây số, bị sóng đánh vì ngược gió. Vào khoảng canh tư, Người đi trên mặt biển mà đến với các môn đệ” (Mt 14:22-25). Chúa Giêsu nói các môn đệ đi sang bờ bên kia, đó là địa hạt của dân ngoại. Chi tiết này giới thiệu những sự kiện sẽ xảy ra sau khi Chúa Giêsu lên thuyền và cùng với các môn đệ đi qua bờ bên kia. Chúng ta thấy Chúa Giêsu chính là người giải tán đám đông chứ không phải các môn đệ vì họ là đàn chiên thuộc về Ngài. Ngài sai họ về nhà của mình, còn Ngài thì “về nhà” của mình để gặp gỡ Cha của Ngài trong giây phút cầu nguyện. Đời sống cầu nguyện của Chúa Giêsu chính là khuôn mẫu cho người Kitô hữu. Ngoài những thời khắc cầu nguyện chung cùng với cộng đoàn, người Kitô hữu được mời gọi dành những khoảng thời gian thinh lặnng trong việc cầu nguyện cá nhân cùng với thiên nhiên trước Thiên Chúa. Chính trong khi cầu nguyện, Chúa Giêsu nhìn thấy chiếc thuyền của các môn đệ bị sóng đánh và Ngài đã đến với họ. Trong bối cảnh này, gió mạnh ám chỉ đến những mãnh lực chống đối của thế gian. Hình ảnh Chúa Giêsu đi trên mặt nước để đến với các môn đệ chỉ rõ Ngài có quyền năng trên các mãnh lực chống đối của thế gian. Ở đây chúng ta thấy có sự ảnh hưởng truyền thuyết của người Canaan và của Cựu Ước, đó là Đức Chúa chiến thắng sóng biển của sự chết (x. Tv 77:19; Job 9:8; 38:16; Is 43:16).
Khi Chúa Giêsu đến trong lúc giông bão, các môn đệ không nhận ra Ngài, nhưng Chúa Giêsu trấn an họ là chính Ngài luôn bên cạnh họ trong những lúc khó khăn trong cuộc sống: “Thấy Người đi trên mặt biển, các ông hoảng hốt bảo nhau: ‘Ma đấy!’ và sợ hãi la lên. Đức Giêsu liền bảo các ông: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!” (Mt 14:26-27). Các môn đệ đã không nhận ra Chúa Giêsu trong đêm bão giông của cuộc sống. Nỗi sợ hãi đã làm họ mất niềm tin vào Chúa Giêsu. Nhưng Chúa Giêsu trấn an họ, để họ không còn sợ hãi mà tin vào Ngài. Đây chính là điều Chúa Giêsu làm cho các môn đệ, đó là trấn an họ khi họ sợ hãi. Ngài khẳng định với họ rằng: “Chính Thầy đây!” những lời này chỉ rõ việc Chúa Giêsu chia sẻ trong quyền năng Thiên Chúa để cứu con người (x. Tv 18:17-18; 144:7; Xh 3:14; Is 43:10; 51:12). Nhiều lần Chúa Giêsu cũng đến với chúng ta trong những giông bão cuộc đời. Chúng ta cũng đã từng không nhận ra Ngài. Nhưng tiếng Ngài luôn vang lên nói chúng ta đừng sợ. Đừng sợ sóng gió trong cuộc sống, vì Chúa Giêsu luôn ở bên chúng ta, cầu nguyện cho chúng ta trong những lúc đó.
Câu chuyện chuyển từ phản ứng của các môn đệ đến phản ứng của một mình Thánh Phêrô trước sự kiện Chúa Giêsu đi trên mặt nước. Chúng ta viết lại cuộc đối thoại này như sau:
Phêrô: “Thưa Ngài, nếu quả là Ngài, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài.”
Chúa Giêsu: “Cứ đến!”
[Ông Phêrô từ thuyền bước xuống, đi trên mặt nước, và đến với Đức Giêsu. Nhưng thấy gió thổi thì ông đâm sợ, và khi bắt đầu chìm]
Phêrô: “Thưa Ngài, xin cứu con với!”
Chúa Giêsu [liền đưa tay nắm lấy ông]: “Hỡi kẻ kém lòng tin! Sao lại hoài nghi?”
Thánh Mátthêu đã thêm vào cuộc đối thoại này (câu 28-31) nhằm mục đích nói lên vị trí cao trọng của Phêrô. Hành động của Phêrô không có ý nghĩa gì trừ khi chúng ta liên kết nó với một tình yêu được thúc đẩy và một đức tin bị yếu đi vì nghi ngờ. Các yếu tố đặc trưng và cá nhân độc nhất vô nhị quyện chặt vào nhau ở đây (x. Ga 20:28-29).
Câu chuyện trở lại với các môn đệ, những người trong thuyền: “Khi thầy trò đã lên thuyền, thì gió lặng. Những kẻ ở trong thuyền bái lạy Người và nói: ‘Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa!’” (Mt 14:32-33). Khi đã thấy Chúa Giêsu làm cho sóng lặng, các môn đệ hiểu được Ngài được chia sẻ trong quyền năng của Thiên Chúa nên đã “bái lạy” Ngài, đây là hành vi tôn thờ và tuyên xưng rằng Ngài là Con Thiên Chúa. Chi tiết này trái ngược với kết thúc của Thánh Máccô, ở đây các môn đệ đã hiểu và tin; họ đã tiên báo trước lời tuyên xưng của Phêrô trong 16:16. Tóm lại, toàn bộ câu chuyện liên quan đến phép lạ về thiên nhiên và được xếp loại như là một sự hiển linh qua việc chế ngự mãnh lực của biển khơi. Câu chuyện này giống với câu chuyện làm biển lặng trong 8:18-27. Theo các học giả Kinh Thành, đây chính là dụ ngôn nói về Giáo Hội bị bao vây và là biểu tượng của một đức tin vững mạnh, đi ra khỏi vùng chưa biết, nhưng có thể bị tổn thương [thương tổn]. Chi tiết này nhắc nhở chúng ta rằng trong sóng gió cuộc đời, dù có bị tổn thương, nhưng hãy vững tin vào Chúa luôn.
Bài Tin Mừng kết thúc với sứ vụ chữa lành của Chúa Giêsu: “Khi qua biển rồi, thầy trò lên đất liền, vào Ghennêxarét. Dân địa phương nhận ra Đức Giêsu, liền tung tin ra khắp vùng, và người ta đem tất cả những kẻ đau ốm đến với Người. Họ nài xin Người cho họ chỉ sờ vào tua áo choàng của Người thôi, và ai đã sờ vào thì đều được cứu chữa” (Mt 14:34-36). Chúng ta cũng tìm thấy đoạn này trong Tin Mừng Thánh Máccô (6:53-56). Theo các học giả Kinh Thánh, đây chính là bản tóm tắt mà qua đó Thánh Mátthêu đã rút ngắn trình thuật của Thánh Maccô. Phần ngắn gọn này tổng quát hoá hành động chữa lành của Chúa Giêsu thành sự kiện xã hội và cung cấp một sự chuyển tiếp để thảo luận về luật thanh sạch mang tính nghi lễ sẽ được thuật lại trong phần kế tiếp. Điều đáng để chúng ta lưu ý là hành động “sờ vào tua áo choàng” của Chúa Giêsu. Qua việc sờ đến tua áo của Ngài, dân chúng tuyên xưng đức tin của mình một cách mặc nhiên, nhưng đồng thời, từ cái nhìn của những người Pharisêu, trong một vài trường hợp họ đã truyền sự không thanh sạch (ô uế) của họ cho Chúa Giêsu. Chúng ta được mời gọi đến với Chúa Giêsu để chạm đến Ngài hầu những bệnh tật trong chúng ta được chữa lành.
Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Dũng. SDB
