Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.
25 Khi ấy, có người thông luật kia muốn thử Đức Giê-su mới đứng lên hỏi Người rằng : “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp ?” 26 Người đáp : “Trong Luật đã viết gì ? Ông đọc thế nào ?” 27 Ông ấy thưa : “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân cận như chính mình.” 28 Đức Giê-su bảo ông ta : “Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy là sẽ được sống.”
29 Tuy nhiên, ông ấy muốn chứng tỏ là mình có lý, nên mới thưa cùng Đức Giê-su rằng : “Nhưng ai là người thân cận của tôi ?” 30 Đức Giê-su đáp : “Một người kia từ Giê-ru-sa-lem xuống Giê-ri-khô, dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết. 31 Tình cờ, có thầy tư tế cũng đi xuống trên con đường ấy. Trông thấy nạn nhân, ông tránh qua bên kia mà đi. 32 Rồi một thầy Lê-vi đi tới chỗ ấy, thấy thế, cũng tránh qua bên kia mà đi. 33 Nhưng một người Sa-ma-ri kia đi đường, tới chỗ nạn nhân, thấy vậy thì động lòng thương. 34 Ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu xức vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc. 35 Hôm sau, ông lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói : ‘Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém thêm bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác.’ 36 Vậy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp ?” 37 Người thông luật trả lời : “Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy.” Đức Giê-su bảo ông ta : “Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy.”
Sống Nhân Hậu Với Mọi Người
(Gl 1:6-12; Lc 10:25-37)
Trong bài đọc 1, Thánh Phaolô “buồn” với các tín hữu Philipphê vì họ “trở mặt mau lẹ như thế với Đấng đã kêu gọi anh em nhờ ân sủng của Đức Kitô, để theo một Tin Mừng khác” (Pl 1:6). Thánh nhân cảnh báo các tín hữu Philipphê về sự hiện diện của những người “phá rối” và làm “xáo trộn” niềm tin của họ. Lối sống của những người này không theo Tin Mừng Thánh Phaolô đã loan báo. Trước sự xáo trộn trong công đoàn, Thánh Phaolô đã khẳng định rằng, Tin Mừng ngài loan báo là được Đức Kitô mạc khải. Chắc chắn về điều này, nên thánh nhân khuyến cáo các tín hữu Philipphê rằng: “Như tôi đã nói, và nay tôi xin nói lại: nếu có ai loan báo cho anh em một Tin Mừng khác với Tin Mừng anh em đã lãnh nhận, thì xin Thiên Chúa loại trừ kẻ ấy đi! Vậy, giờ đây tôi tìm cách lấy lòng người đời, hay lấy lòng Thiên Chúa? Phải chăng tôi tìm cách làm đẹp lòng người đời? Nếu tôi còn muốn làm đẹp lòng người đời, thì tôi không phải là tôi tớ của Đức Kitô” (Pl 1:9-10). Những lời này khuyến cáo chúng ta về lối sống “tìm làm đẹp lòng người đời hơn là làm đẹp lòng Thiên Chúa.” Nhiều khi chúng ta sợ mất tương quan với người đời mà đánh mất tương quan với Thiên Chúa. Chúng ta cần phải xác định lại rằng nếu là môn đệ, là tôi tớ của Đức Kitô, chúng ta cần phải làm đẹp lòng Ngài chứ không phải làm đẹp lòng người đời, vì người đời không chết để cứu độ chúng ta, mà chính Đức Kitô đã đổ máu mình ra trên thập giá mà cứu chuộc chúng ta.
Bài Tin Mừng hôm nay chỉ được tìm thấy trong Tin Mừng Thánh Luca và được gọi là Dụ Ngôn Người Samaria Nhân Hậu. Nội dung của bài Tin Mừng xoay quanh hai câu hỏi mà người thông luật hỏi Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” (Lc 10:25) và “Nhưng ai là người thân cận của tôi?” (Lc 10:29). Đây là hai câu hỏi mà mỗi người chúng ta tìm cách trả lời hầu tìm cho mình một cuộc sống ý nghĩa.
Câu hỏi thứ nhất liên quan đến sự sống đời đời và những việc chúng ta phải làm trong ngày. Cuộc đối thoại xảy ra như sau:
Người thông luật: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?”
Chúa Giêsu: “Trong Luật đã viết gì? Ông đọc thế nào?”
Người thông luật: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân cận như chính mình.”
Chúa Giêsu: “Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy là sẽ được sống.”
Câu hỏi thứ hai xoay quanh tương quan của chúng ta với người khác. Chúng ta thấy ở đây điều đáng suy gẫm là chúng ta thường không có vấn đề gì lắm trong việc yêu Chúa, nhưng chúng ta thường thấy không dễ dàng để yêu người khác, ngay cả những người rất gần gũi, những người thân trong gia đình. Để trả lời câu hỏi về người thân cận, Chúa Giêsu kể cho người thông luật một dụ ngôn [câu chuyện]. Trong câu chuyện, chúng ta thấy có ba nhân vật và một người bị nạn. Người bị nạn được xem là yếu tố ngoại cảnh. Điều Chúa Giêsu muốn nói với chúng ta là thái độ của ba người khi gặp người bị nạn [yếu tố ngoại cảnh]. Chúng ta xem mình thuộc loại người nào trong ba loại người Chúa Giêsu nêu ra.
Trước khi phân tích thái độ của ba người gặp kẻ bị nạn, điểm đầu tiên đáng để chúng ta suy gẫm là “hành trình của một người kia.” Chúng ta thấy ở đây người bị nạn chỉ được đề cập đến như là “người kia,” không có tên. Chi tiết này ám chỉ đến việc người gặp nạn có thể bất kỳ người nào chúng ta gặp trong ngày sống của chúng ta. Họ có thể là người thân hoặc những kẻ xa lạ. Chi tiết kế đến là hình ảnh “hành trình.” Trong Tin Mừng Thánh Luca, “hành trình” rất quan trọng. Một cách cụ thể, trong Tin Mừng Thánh Luca, Chúa Giêsu thực hiện “hành trình” của Ngài từ bên ngoài [Galilê] lên Giêrusalem. Các môn đệ cũng đi cùng hành trình này với Chúa Giêsu. Chỉ sau khi Chúa Giêsu lên trời, các Tông Đồ thực hiện hành trình từ Giêrusalem đến tận cùng trái đất. Như vậy, theo Thánh Luca, Giêrusalem là trung tâm, vì nơi đó có Đền Thờ là nhà “Cha của Chúa Giêsu” (x. Lc 2:49). Cuộc đời trần thế của Chúa Giêsu là một hành trình lên Giêrusalem, hay nói đúng hơn đi về nhà Cha. Chỉ có hành trình như thế mới mang lại bình an và ơn cứu độ. Người bị nạn trong bài Tin Mừng hôm nay “đi ngược” với hành trình mà Chúa Giêsu đang đi [Chúa Giêsu đi vào Giêrusalem – “người kia” đi ra khỏi Giêrusalem]: “Một người kia từ Giêrusalem xuống Giêrikhô, dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết.” Điều này khuyến cáo chúng ta rằng: Những ai đi ngược với hành trình mà Chúa Giêsu đi sẽ kết thúc trong nước mắt và đau thương. Hãy lắng đọng giây phút để xem mình đang đi cùng hành trình về nhà Cha với Chúa Giêsu hay chúng ta đang đi ngược với hành trình đó để rồi càng ngày càng xa Chúa.
Chi tiết thứ hai để chúng ta suy gẫm trong bài Tin Mừng là thái độ của ba người gặp người bị nạn. Chúa Giêsu chọn ba người đại diện cho ba tầng lớp phổ biến trong thời gian đó. Như chúng ta đã trình bày ở trên, người bị nạn không phải là nhân vật chính. Người bị nạn được xem như một yếu tố ngoại cảnh, còn phản ứng của ba người gặp yếu tố ngoại cảnh khẳng định loại người họ là. Chúng ta cùng nhau phân tích phản ứng của họ.
Người thứ nhất là thầy tư tế. Những chi tiết kế tiếp là (1) ông cũng đi xuống đường đó [đi ngược với hành trình Chúa Giêsu đi], trông thấy nạn nhân, tránh qua bên kia mà đi (x. Lc 10:31). Những chi tiết này cho thấy thầy tư tế quá bận tâm với “danh dự” và “vai trò” của mình. Thầy tư tế sợ đụng vào người “đẫm máu bên vệ đường” sẽ làm cho công ta bị ô uế và không thể thực hành vai trò tư tế của mình. Nói cách khác, ông đặt vai trò hay công việc lên trên nhân phẩm và sự sống của anh chị em mình. Thái độ này cũng là thái độ của nhiều người trong chúng ta. Nhiều lần trong ngày sống, chúng ta vì công việc mà trở nên vô tình, vô cảm với anh chị em mình. Chúa Giêsu muốn chúng ta phải đặt lại giá trị trong cuộc sống: sự sống và nhân phẩm của anh chị em quan trọng hơn bất kỳ công việc và danh dự nào.
Người thứ hai là thầy Lêvi. Chúng ta không biết ông ta đi về hướng nào. Chúng ta chỉ biết ông ta “đi tới chỗ ấy” [cũng có thể ông đang trên đường lên Giêrusalem chăng?], trông thấy nạn nhân, cũng tránh qua bên kia mà đi (x. Lc 10:32). Cũng giống như thầy tư tế, thầy Lêvi cũng không muốn để cho mình bị ngăn trở và bị trở nên ô uế khi đụng vào xác chết. Ông đặt sự an toàn của chính mình và công việc lên trên nỗi thống khổ của anh chị em mình. Đây là hình ảnh của nhiều người trong chúng ta, những người tìm kiếm tư lợi cho chính mình dù thấy anh chị em mình đang phải đau khổ vật lộn với cuộc sống.
Người thứ ba là một người Samaria. Cũng như thầy Lêvi, chúng ta không biết ông đi về hướng nào. Ông “đi tới chỗ nạn nhân,” trông thấy, động lòng thương (x. Lc 10:33). Điều khác biệt giữa ông và thầy tư tế cũng như thầy Lêvi là “ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu xức vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc” (Lc 10:33). Không chỉ “chăm sóc nhu cầu gần” của người bị nạn, ông ta còn chăm sóc cả “nhu cầu xa”: “Hôm sau, ông lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói: ‘Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém thêm bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác’” (Lc 10:35). Cử chỉ của người Samaria dạy chúng ta rằng lòng thương xót không chỉ dừng lại ở nhu cầu khẩn thiết của người thân cận, nhưng còn lo cho nhu cầu của người đó trong tương lai. Nói cách khác, tình yêu không hệ tại ở một vài hành động tốt, nhưng hệ tại ở động lực thúc đẩy chúng ta thực hiện những hành động tốt cho người khác, hay nói đúng hơn hệ tại ở thái độ sống đầy yêu thương mà chúng ta dành cho người khác.
Nét đẹp trong cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và thầy thông luật nằm ở chỗ “hoán đổi vị trí.” Nói cách cụ thể, thay vì là người “chất vấn” Chúa Giêsu, thầy thông luật cuối cùng bị Chúa Giêsu “chất vấn”: “Vậy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?” (Lc 10:36). Chúa Giêsu muốn chính thầy thông luật trả lời cho câu hỏi của mình sau khi Ngài giảng dạy qua dụ ngôn lấy từ cuộc sống hằng ngày. Chi tiết này nhắc nhở chúng ta rằng: trong cuộc sống chúng ta cũng gặp nhiều điều để chất vấn Chúa. Nhưng Chúa cũng muốn chúng ta tự tìm câu trả lời cho chính mình sau khi Ngài đã sử dụng người khác hoặc những sự kiện xảy ra trong ngày sống để giúp chúng ta tìm ra câu trả lời. Người thông luật đã tìm được câu trả lời của mình sau khi nghe Chúa Giêsu giải thích: “Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy” (Lc 10:37). Còn chúng ta thì sao, liệu chúng ta có tìm ra câu trả lời cho vấn nạn về người thân cận của chúng ta không?
Điều làm chúng ta ngạc nhiên là Chúa Giêsu kết thúc hai lần trả lời với cùng một điều: “Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy” (Lc 10:28,37). Qua những lời này, Chúa Giêsu nhắc nhở chúng ta về tầm quan trọng của việc thực hành những gì chúng ta nghe, biết về lời dạy của Ngài. Nhiều người trong chúng ta nghe nhiều và cũng tự hào biết nhiều về Chúa, nhưng đời sống lại không đi đôi với nhũng gì chúng ta nghe và biết. Hãy bắt đầu từ ngày hôm nay! Hãy sống những gì chúng ta nghe và biết về Thiên Chúa.
Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Dũng. SDB
