Ở Lại Để Yêu Thương
“Trong quan điểm Kitô học, ơn cứu độ của Đức Giê-su là cứu độ thế giới, không phải thoát khỏi thế giới.”
Trong thời đại ngày nay, nhiều bộ phim viễn tưởng nổi tiếng đã thu hút đông đảo khán giả bằng những câu chuyện về việc tìm kiếm một thế giới mới thay thế cho Trái Đất. Những bộ phim như Avatar hay Black Panther thường xây dựng bối cảnh Trái Đất đang dần cạn kiệt tài nguyên hoặc môi trường sống bị tàn phá. Con người vì thế phải tìm đến những hành tinh hay vùng đất mới để tiếp tục tồn tại. Những câu chuyện ấy phản ánh một nỗi lo rất thật của nhân loại hôm nay: Trái Đất đang bị tổn thương, môi trường bị ô nhiễm, và con người đôi khi cảm thấy như không còn chỗ đứng trong chính thế giới của mình. Vì vậy, ý tưởng rời bỏ thế giới này để đi tìm một nơi khác tốt đẹp hơn trở thành một viễn tượng hấp dẫn trong trí tưởng tượng của nhiều người.
Tuy nhiên, trong cái nhìn của Kitô giáo, ơn cứu độ mà Đức Giê-su mang đến lại mang một ý nghĩa rất khác. Nhà thần học Kitô học, Robin Ryan, đã diễn tả tư tưởng từ thời thần học Kitô Giáo sơ khai cách xác tín rằng: “Christian vision of salvation means the salvation of the world, not salvation from the world.”[1] Nghĩa là: Cứu độ của Kitô giáo là sự cứu độ của thế giới, chứ không phải là sự cứu độ khỏi thế giới.
Khi phân tích từ ngữ trong tiếng Anh, ta có thể nhận ra một sắc thái ý nghĩa rất sâu sắc. Từ “of” diễn tả mối tương quan thuộc về, gắn bó với; trong khi “from” lại chỉ sự tách biệt hay rời khỏi. Như vậy, nói đến “salvation of the world” có nghĩa là ơn cứu độ hướng đến chính thế giới này, cho thế giới được biến đổi và trở nên tốt đẹp hơn. Ngược lại, “salvation from the world” sẽ hàm ý thoát ly, rời bỏ thế giới như một điều gì đó xấu xa.
Biến cố Nhập Thể cho thấy rõ điều đó. Khi đến trong thế gian, Đức Giê-su không đứng bên ngoài thế giới để cứu nó, nhưng Ngài trở thành một phần của thế giới này. Ngài sinh ra như một con người, sống giữa con người, chia sẻ niềm vui, nỗi buồn, cả những đau khổ của nhân loại. Chính bằng việc mang lấy thân phận con người mà Ngài thực hiện công trình cứu độ, phục hổi tình trạng tốt lành nguyên thủy của con người. Điều này cũng cho thấy Kitô giáo không chấp nhận quan điểm nhị nguyên cho rằng thế giới vật chất là xấu xa và cần phải lại bỏ hay thoát khỏi nó. Trái lại, thế giới này là công trình sáng tạo của Thiên Chúa, và vì thế nó đáng được yêu thương, chăm sóc và cứu độ.
Từ đó, ta có thể nhìn lại đời sống con người hôm nay. Trong nhiều hoàn cảnh, chúng ta cũng dễ có xu hướng trốn chạy. Khi một nơi nào đó trở nên khó khăn hay không còn thuận lợi, ta muốn rời bỏ nó. Có người nói: “Ở đây ô nhiễm quá, tôi đi nơi khác.” Khi công việc gặp khó khăn: “Công ty này đang thua lỗ, tôi tìm nơi khác.” Ngay cả trong đời sống cộng đoàn cũng vậy: khi gặp những người mình không thích hay những va chạm nhỏ bé, ta dễ nghĩ đến việc rời bỏ cộng đoàn để tìm một nơi khác “dễ chịu” hơn.
Nhưng nếu ai cũng chỉ nghĩ đến việc ra đi, thì ai sẽ ở lại để xây dựng? Ai sẽ cùng nhau thay đổi môi trường sống của mình? Nếu thế giới này là nơi chúng ta đang sống và thuộc về, thì mỗi người cũng có trách nhiệm góp phần làm cho nó trở nên tốt đẹp hơn.
Tinh thần của Tin Mừng mời gọi con người không phải chạy trốn khỏi thực tại, nhưng ở lại trong thực tại ấy để biến đổi nó bằng tình yêu, sự kiên nhẫn và tinh thần xây dựng. Cũng giống như Đức Giê-su đã bước vào thế giới này để cứu độ nó, mỗi người chúng ta cũng được mời gọi hiện diện giữa đời sống thường ngày để góp phần làm cho thế giới chung quanh mình trở nên nhân bản hơn, tốt đẹp hơn.
Có lẽ chính khi biết gắn bó và dấn thân như thế, chúng ta mới thực sự hiểu được ý nghĩa sâu xa của ơn cứu độ: không phải là rời bỏ thế giới, nhưng là cùng với Thiên Chúa làm cho thế giới này được đổi mới từng ngày.
Học viện Betania, FMV
[1] Robin Ryan, Jesus and Salvation Soundings in the Christian Tradition and Contemporary Theology, Liturgical Press.
