4Đức Chúa là Chúa Thượng
đã cho tôi nói năng như một người môn đệ,
để tôi biết lựa lời nâng đỡ ai rã rời kiệt sức.
Sáng sáng Người đánh thức, Người đánh thức tôi
để tôi lắng tai nghe như một người môn đệ.
5Đức Chúa là Chúa Thượng đã mở tai tôi,
còn tôi, tôi không cưỡng lại, cũng chẳng tháo lui.
6Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn,
giơ má cho người ta giật râu.
Tôi đã không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ.
7Có Đức Chúa là Chúa Thượng phù trợ tôi,
vì thế, tôi đã không hổ thẹn,
vì thế, tôi trơ mặt ra như đá.
Tôi biết mình sẽ không phải thẹn thùng.
6Đức Giê-su Ki-tô
vốn dĩ là Thiên Chúa
mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì
địa vị ngang hàng với Thiên Chúa,
7nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang
mặc lấy thân nô lệ,
trở nên giống phàm nhân
sống như người trần thế.
8Người lại còn hạ mình,
vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết,
chết trên cây thập tự.
9Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người
và tặng ban danh hiệu
trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu.
10Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giê-su,
cả trên trời dưới đất
và trong nơi âm phủ,
muôn vật phải bái quỳ ;
11và để tôn vinh Thiên Chúa Cha,
mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng :
“Đức Giê-su Ki-tô là Chúa”.
✠Cuộc Thương Khó của Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
2614nk Khi ấy, một người trong Nhóm Mười Hai tên là Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, đi gặp các thượng tế 15 mà nói : m “Tôi nộp ông Giê-su cho quý vị, thì quý vị muốn cho tôi bao nhiêu.” nk Họ quyết định cho hắn ba mươi đồng bạc. 16 Từ lúc đó, hắn cố tìm dịp thuận tiện để nộp Đức Giê-su.
17nk Ngày thứ nhất trong tuần bánh không men, các môn đệ đến thưa với Đức Giê-su : m “Thầy muốn chúng con dọn cho Thầy ăn lễ Vượt Qua ở đâu ?” 18nk Người bảo : ✠ “Các anh đi vào thành, đến nhà một người kia và nói với ông ấy : Thầy nhắn : thời của Thầy đã gần tới, Thầy sẽ đến nhà ông để ăn mừng lễ Vượt Qua với các môn đệ của Thầy.” 19nk Các môn đệ làm y như Đức Giê-su đã truyền, và dọn tiệc Vượt Qua.
20nk Chiều đến, Đức Giê-su vào bàn tiệc với mười hai môn đệ. 21 Đang bữa ăn, Người nói : ✠ “Thầy bảo thật anh em, một người trong anh em sẽ nộp Thầy.” 22nk Các môn đệ buồn rầu quá sức, lần lượt hỏi Người : m “Thưa Ngài, chẳng lẽ con sao ?” 23nk Người đáp : ✠ “Kẻ giơ tay chấm chung một đĩa với Thầy, đó là kẻ nộp Thầy. 24 Đã hẳn Con Người ra đi theo như lời đã chép về Người, nhưng khốn cho kẻ nào nộp Con Người : thà nó đừng sinh ra thì hơn !” 25nk Giu-đa, kẻ nộp Người cũng hỏi : m “Ráp-bi, chẳng lẽ con sao ?” nk Người trả lời : ✠ “Chính anh nói đó !”
26nk Cũng trong bữa ăn, Đức Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho môn đệ và nói : ✠ “Anh em cầm lấy mà ăn, đây là mình Thầy.” 27nk Rồi Người cầm lấy chén, dâng lời tạ ơn, trao cho môn đệ và nói : ✠ “Tất cả anh em hãy uống chén này, 28 vì đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội. 29 Thầy bảo cho anh em biết : từ nay, Thầy không còn uống thứ sản phẩm này của cây nho, cho đến ngày Thầy cùng anh em uống thứ rượu mới trong Nước của Cha Thầy.”
30nk Hát thánh vịnh xong, Đức Giê-su và các môn đệ ra núi Ô-liu. 31 Bấy giờ Đức Giê-su nói với các ông : ✠ “Đêm nay tất cả anh em sẽ vấp ngã vì Thầy. Vì có lời đã chép : Ta sẽ đánh người chăn chiên, và đàn chiên sẽ tan tác. 32 Nhưng sau khi trỗi dậy, Thầy sẽ đến Ga-li-lê trước anh em.” 33nk Ông Phê-rô liền thưa : m “Dầu tất cả có vấp ngã vì Thầy đi nữa, thì con đây cũng chẳng bao giờ vấp ngã.” 34nk Đức Giê-su bảo ông : ✠ “Thầy bảo thật anh : nội đêm nay, gà chưa kịp gáy, thì anh đã chối Thầy ba lần.” 35nk Ông Phê-rô lại nói : m “Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy.” nk Tất cả các môn đệ cũng đều nói như vậy.
36nk Bấy giờ Đức Giê-su đi cùng với các ông đến một thửa đất gọi là Ghết-sê-ma-ni. Người nói với các môn đệ : ✠ “Anh em ngồi lại đây, Thầy đến đàng kia cầu nguyện.” 37nk Rồi Người đưa ông Phê-rô và hai người con ông Dê-bê-đê đi theo. Người bắt đầu cảm thấy buồn rầu xao xuyến. 38 Bấy giờ Người nói với các ông : ✠ “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được. Anh em ở lại đây mà canh thức với Thầy.” 39nk Người đi xa hơn một chút, sấp mặt xuống, cầu nguyện rằng : ✠ “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.” 40nk Rồi Người đến chỗ các môn đệ, thấy các ông đang ngủ, liền nói với ông Phê-rô : ✠ “Thế ra anh em không thể canh thức nổi với Thầy một giờ sao ? 41 Anh em hãy canh thức và cầu nguyện, để khỏi lâm vào cơn cám dỗ. Vì tinh thần thì hăng say, nhưng thể xác lại yếu hèn.” 42nk Người lại đi cầu nguyện lần thứ hai và nói : ✠ “Lạy Cha, nếu con cứ phải uống chén này mà không sao tránh khỏi, thì xin vâng ý Cha.” 43nk Rồi Người lại đến, thấy các môn đệ vẫn đang ngủ, vì mắt họ nặng trĩu. 44 Người để mặc các ông mà đi cầu nguyện lần thứ ba, nói lại cũng một lời đó. 45 Bấy giờ Người đến chỗ các môn đệ và nói với các ông : ✠ “Lúc này mà còn ngủ, còn nghỉ sao ? Này, đến giờ Con Người bị nộp vào tay những kẻ tội lỗi. 46 Đứng dậy, ta đi nào ! Kìa kẻ nộp Thầy đã tới !”
47nk Người còn đang nói, thì Giu-đa, một người trong nhóm Mười Hai, đã đến. Cùng đi với hắn, có cả một đám người đông đảo mang gươm giáo gậy gộc. Họ được các thượng tế và kỳ mục trong dân sai đến. 48 Kẻ nộp Người đã cho họ một dấu hiệu, hắn dặn rằng : m “Tôi hôn ai thì chính là người đó. Các anh bắt lấy !” 49nk Ngay lúc đó, Giu-đa tiến lại gần Đức Giê-su và nói : m “Ráp-bi, xin chào Thầy !”, nk rồi hôn Người. 50 Đức Giê-su bảo hắn : ✠ “Này bạn, bạn đến đây làm gì thì cứ làm đi !” nk Bấy giờ họ tiến đến, tra tay bắt Đức Giê-su. 51 Một trong những kẻ theo Đức Giê-su liền vung tay tuốt gươm ra, chém phải tên đầy tớ của thượng tế, làm nó đứt tai. 52 Đức Giê-su bảo người ấy : ✠ “Hãy xỏ gươm vào vỏ, vì tất cả những ai cầm gươm sẽ chết vì gươm. 53 Hay anh tưởng là Thầy không thể kêu cứu với Cha Thầy sao ? Người sẽ cấp ngay cho Thầy hơn mười hai đạo binh thiên thần ! 54 Nhưng như thế, thì lời Kinh Thánh ứng nghiệm sao được ? Vì theo đó, mọi sự phải xảy ra như vậy.” 55nk Vào giờ ấy Đức Giê-su nói với đám đông : ✠ “Tôi là một tên cướp hay sao, mà các ông đem gươm giáo gậy gộc đến bắt ? Ngày ngày tôi vẫn ngồi giảng dạy ở Đền Thờ thì các ông không bắt. 56 Nhưng tất cả sự việc này xảy ra là để ứng nghiệm những lời chép trong Sách Các Ngôn Sứ.” nk Bấy giờ các môn đệ bỏ Người mà chạy trốn hết.
57nk Họ bắt Đức Giê-su, rồi điệu đến thượng tế Cai-pha. Các kinh sư và kỳ mục đã tề tựu sẵn đó. 58 Ông Phê-rô theo Người xa xa, đến tận dinh thượng tế. Ông vào bên trong ngồi với bọn thuộc hạ, xem kết cuộc ra sao.
59nk Còn các thượng tế và toàn thể Thượng Hội Đồng thì tìm chứng gian buộc tội Đức Giê-su để lên án tử hình. 60 Nhưng họ tìm không ra, mặc dầu có nhiều kẻ đã đứng ra làm chứng gian. Sau cùng, có hai người bước ra, 61 khai rằng : m “Tên này đã nói : tôi có thể phá Đền Thờ Thiên Chúa, và nội trong ba ngày, sẽ xây cất lại.” 62nk Bấy giờ vị thượng tế đứng lên hỏi Đức Giê-su : m “Ông không nói lại được một lời sao ? Mấy người này tố cáo ông gì đó ?” 63nk Nhưng Đức Giê-su vẫn làm thinh. Vị thượng tế nói với Người : m “Nhân danh Thiên Chúa hằng sống, tôi truyền cho ông phải nói cho chúng tôi biết : ông có phải là Đấng Ki-tô Con Thiên Chúa không ?” 64nk Đức Giê-su trả lời : ✠ “Chính ngài vừa nói. Hơn nữa, tôi nói cho các ông hay : từ nay, các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và ngự giá mây trời mà đến.” 65nk Bấy giờ vị thượng tế liền xé áo mình ra và nói : m “Hắn nói phạm thượng ! Chúng ta cần gì nhân chứng nữa ? Đấy, quý vị vừa nghe hắn nói phạm đến Thiên Chúa, 66 quý vị nghĩ sao ?” nk Họ liền đáp : dc “Hắn đáng chết !”
67nk Rồi họ khạc nhổ vào mặt và đấm đánh Người. Có kẻ lại tát Người 68 và nói : m “Ông Ki-tô ơi, hãy nói tiên tri cho chúng tôi nghe đi : ai đánh ông đó ?”
69nk Lúc đó ông Phê-rô đang ngồi ngoài sân. Một người đầy tớ gái đến bên ông và nói : m “Cả bác nữa, bác cũng đã ở với ông Giê-su, người Ga-li-lê đó chứ gì ?” 70nk Ông liền chối trước mặt mọi người mà nói : m “Tôi không biết cô nói gì !” 71nk Ông đi ra đến cổng, thì một người tớ gái khác thấy ông, liền nói với những người ở đó : m “Bác này cũng đã ở với ông Giê-su người Na-da-rét đấy.” 72nk Nhưng ông Phê-rô lại thề mà chối : m “Tôi không biết người ấy.” 73nk Một lát sau, những người đứng đó xích lại gần ông Phê-rô mà nói : m “Đúng là bác cũng thuộc bọn họ. Cứ nghe giọng nói của bác là biết ngay.” 74nk Bấy giờ ông Phê-rô liền thề độc mà quả quyết rằng : m “Tôi thề là không biết người ấy.” nk Ngay lúc đó, có tiếng gà gáy. 75 Ông Phê-rô sực nhớ lời Đức Giê-su đã nói : “Gà chưa kịp gáy thì anh đã chối Thầy ba lần.” Ông ra ngoài, khóc lóc thảm thiết.
271nk Trời vừa sáng, tất cả các thượng tế và kỳ mục trong dân cùng nhau bàn kế hại Đức Giê-su, để xử tử Người. 2 Sau đó, họ cho trói Người lại và giải đi nộp cho tổng trấn Phi-la-tô.
3nk Bấy giờ, Giu-đa, kẻ đã nộp Người, thấy Người bị kết án thì hối hận. Hắn đem ba mươi đồng bạc trả lại cho các thượng tế và kỳ mục 4 mà nói : m “Tôi đã phạm tội nộp người vô tội, khiến Người phải chết oan.” nk Nhưng họ đáp : m “Can gì đến chúng tôi. Mặc kệ anh !” 5nk Giu-đa ném số bạc vào Đền Thờ và ra đi thắt cổ. 6 Các thượng tế lượm lấy số bạc ấy mà nói : m “Không được phép bỏ vào quỹ Đền Thờ, vì đây là giá máu.” 7nk Sau khi bàn định với nhau, họ dùng tiền đó tậu “Thửa Ruộng Ông Thợ Gốm” để làm nơi chôn cất khách ngoại kiều. 8 Vì vậy mà thửa ruộng ấy gọi là “Ruộng Máu” cho đến ngày nay. 9 Thế là ứng nghiệm lời ngôn sứ Giê-rê-mi-a : “Họ đã lượm lấy ba mươi đồng bạc, tức là cái giá mà một số con cái Ít-ra-en đã đặt khi đánh giá Người. 10 Và họ lấy số bạc đó mà mua “Thửa Ruộng Ông Thợ Gốm”, theo những điều Đức Chúa đã truyền cho tôi.”
11nk Đức Giê-su bị điệu ra trước mặt tổng trấn ; tổng trấn hỏi Người : m “Ông là vua dân Do-thái sao ?” nk Đức Giê-su trả lời : ✠ “Chính ngài nói đó.” 12nk Nhưng khi các thượng tế và kỳ mục tố Người, thì Người không trả lời một tiếng. 13 Bấy giờ ông Phi-la-tô hỏi Người : m “Ông không nghe bao nhiêu điều họ làm chứng chống lại ông đó sao ?” 14nk Nhưng Đức Giê-su không trả lời ông về một điều nào, khiến tổng trấn rất đỗi ngạc nhiên.
15nk Vào mỗi dịp lễ lớn, tổng trấn có lệ phóng thích cho dân chúng một người tù, tuỳ ý họ muốn. 16 Mà khi ấy có một người tù khét tiếng, tên là Ba-ra-ba. 17 Vậy khi đám đông đã tụ họp lại, thì tổng trấn Phi-la-tô nói với họ : m “Các người muốn ta phóng thích ai cho các người đây ? Ba-ra-ba hay Giê-su, cũng gọi là Ki-tô ?” 18nk Bởi ông thừa biết chỉ vì ghen tị mà họ nộp Người.
19nk Lúc tổng trấn đang ngồi xử án, thì bà vợ sai người đến nói với ông : m “Ông đừng nhúng tay vào vụ xử người công chính này, vì hôm nay, tôi chiêm bao thấy mình phải khổ nhiều vì ông ấy.”
20nk Nhưng các thượng tế và kỳ mục lại xúi đám đông đòi tha tên Ba-ra-ba mà giết Đức Giê-su. 21 Tổng trấn hỏi họ : m “Trong hai người này, các người muốn ta tha ai cho các người ?” nk Họ thưa : dc “Ba-ra-ba !” 22nk Tổng trấn Phi-la-tô nói tiếp : m “Thế còn ông Giê-su, cũng gọi là Ki-tô, ta sẽ làm gì đây ?” nk Mọi người đồng thanh : dc “Đóng đinh nó vào thập giá !” 23nk Tổng trấn lại nói : m “Thế ông ấy đã làm điều gì gian ác ?” nk Họ càng la to : dc “Đóng đinh nó vào thập giá !” 24nk Tổng trấn Phi-la-tô thấy đã chẳng được ích gì mà còn thêm náo động, nên lấy nước rửa tay trước mặt đám đông mà nói : m “Ta vô can trong vụ đổ máu người này. Mặc các người liệu lấy !” 25nk Toàn dân đáp lại : dc “Máu hắn cứ đổ xuống đầu chúng tôi và con cháu chúng tôi !” 26nk Bấy giờ, tổng trấn phóng thích tên Ba-ra-ba cho họ, còn Đức Giê-su, thì ông truyền đánh đòn, rồi trao cho họ đóng đinh vào thập giá.
27nk Bấy giờ lính của tổng trấn đem Đức Giê-su vào trong dinh, và tập trung cả cơ đội quanh Người. 28 Chúng lột áo Người ra, khoác cho Người một tấm áo choàng đỏ, 29 rồi kết một vòng gai làm vương miện đặt lên đầu Người, và trao vào tay mặt Người một cây sậy. Chúng quỳ gối trước mặt Người mà nhạo rằng : dc “Vạn tuế Đức Vua dân Do-thái !” 30nk Rồi chúng khạc nhổ vào Người và lấy cây sậy mà đập vào đầu Người. 31 Chế giễu chán, chúng lột áo choàng ra, và cho Người mặc áo lại như trước, rồi điệu Người đi đóng đinh vào thập giá.
32nk Đang đi ra, thì chúng gặp một người Ky-rê-nê, tên là Si-môn ; chúng bắt ông vác thập giá của Người. 33 Khi đến nơi gọi là Gôn-gô-tha, nghĩa là Đồi Sọ, 34 chúng cho Người uống rượu pha mật đắng, nhưng Người chỉ nếm một chút mà không chịu uống. 35 Đóng đinh Người vào thập giá xong, chúng đem áo Người ra bắt thăm mà chia nhau. 36 Rồi chúng ngồi đó mà canh giữ Người.
37nk Phía trên đầu Người, chúng đặt bản án xử tội viết rằng : “Người này là Giê-su, vua dân Do-thái.” 38 Cùng bị đóng đinh với Người có hai tên cướp, một tên bên phải, một tên bên trái.
39nk Kẻ qua người lại đều nhục mạ Người, vừa lắc đầu 40 vừa nói : m “Mi là kẻ phá được Đền Thờ, và nội trong ba ngày xây lại được, hãy cứu lấy mình đi ! Nếu mi là Con Thiên Chúa, thì xuống khỏi thập giá xem nào !” 41nk Các thượng tế, kinh sư và kỳ mục cũng chế giễu Người mà nói : 42m “Hắn cứu được thiên hạ, mà chẳng cứu nổi mình. Hắn là Vua Ít-ra-en ! Hắn cứ xuống khỏi thập giá ngay bây giờ đi, chúng ta tin hắn liền ! 43 Hắn cậy vào Thiên Chúa, thì bây giờ Người cứu hắn đi, nếu quả thật Người thương hắn ! Vì hắn đã nói : “Ta là Con Thiên Chúa !” 44nk Cả những tên cướp cùng bị đóng đinh với Người cũng sỉ vả Người như thế.
45nk Từ giờ thứ sáu, bóng tối bao phủ cả mặt đất, mãi đến giờ thứ chín. 46 Vào giờ thứ chín, Đức Giê-su kêu lớn tiếng : ✠ “Ê-li, Ê-li, lê-ma xa-bác-tha-ni”, nk nghĩa là ✠ “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con ?” 47nk Nghe vậy, một vài người đứng đó liền nói : m “Hắn ta gọi ông Ê-li-a !” 48nk Lập tức, một người trong bọn chạy đi lấy miếng bọt biển, thấm đầy giấm, buộc vào đầu cây sậy và đưa lên cho Người uống. 49 Còn những người khác lại bảo : m “Khoan đã, để xem ông Ê-li-a có đến cứu hắn không !” 50nk Đức Giê-su lại kêu một tiếng lớn, rồi trút linh hồn.
(quỳ gối thinh lặng trong giây lát)
51nk Ngay lúc đó, bức màn trướng trong Đền Thờ xé ra làm hai từ trên xuống dưới. Đất rung, đá vỡ. 52 Mồ mả bật tung, và xác của nhiều vị thánh đã an nghỉ được trỗi dậy. 53 Sau khi Chúa trỗi dậy, các ngài ra khỏi mồ, vào thành thánh, và hiện ra với nhiều người. 54 Thấy động đất và các sự việc xảy ra, viên đại đội trưởng và những người cùng ông canh giữ Đức Giê-su đều rất đỗi sợ hãi và nói : m “Quả thật ông này là Con Thiên Chúa.”
55nk Ở đó, cũng có nhiều người phụ nữ đứng nhìn từ đàng xa. Các bà này đã theo Đức Giê-su từ Ga-li-lê để giúp đỡ Người. 56 Trong số đó, có bà Ma-ri-a Mác-đa-la, bà Ma-ri-a mẹ các ông Gia-cô-bê và Giô-xếp, và bà mẹ các con ông Dê-bê-đê.
57nk Chiều đến, có một người giàu sang tới. Ông này là người thành A-ri-ma-thê, tên là Giô-xếp, và cũng là môn đệ Đức Giê-su. 58 Ông đến gặp ông Phi-la-tô để xin thi hài Đức Giê-su. Bấy giờ tổng trấn Phi-la-tô ra lệnh trao trả thi hài cho ông. 59 Khi đã nhận thi hài, ông Giô-xếp lấy tấm vải gai sạch mà liệm, 60 và đặt vào ngôi mộ mới, đã đục sẵn trong núi đá, dành cho ông. Ông lăn tảng đá to lấp cửa mồ, rồi ra về. 61 Còn bà Ma-ri-a Mác-đa-la và một bà khác cũng tên là Ma-ri-a ở lại đó, quay mặt vào mồ.
62nk Hôm sau, tức là khi ngày áp lễ đã qua, các thượng tế và những người Pha-ri-sêu kéo nhau đến ông Phi-la-tô, 63 và nói : m “Thưa ngài, chúng tôi nhớ tên bịp bợm ấy khi còn sống có nói : “Sau ba ngày, Ta sẽ trỗi dậy.” 64 Vậy xin quan lớn truyền canh mộ kỹ càng cho đến ngày thứ ba, kẻo môn đệ hắn đến lấy trộm xác rồi phao trong dân là hắn đã từ cõi chết trỗi dậy. Và như thế, chuyện bịp cuối cùng này sẽ còn tệ hại hơn chuyện trước.” 65nk Ông Phi-la-tô bảo họ : m “Thì có sẵn lính đó, các người hãy đi mà canh giữ theo cách các người biết !” 66nk Thế là họ ra đi canh giữ mồ, niêm phong tảng đá và cắt lính canh mồ.
Câu Chuyện Tình Đẹp Nhất Được Kể Qua Mọi Thế Hệ
(Mt 21:1-11; Is 50:4-7; Pl 2:6-11; Mt 26:14 – 27:66)
Hôm nay, chúng ta bắt đầu cùng với Giáo Hội cử hành Lễ Lá. Chúa Nhật này cũng được gọi là Chúa Nhật Thương Khó, vì chúng ta sẽ nghe trong bài Tin Mừng về cuộc thương khó của Chúa Giêsu. Với Chúa Nhật Lễ Lá, chúng ta bắt đầu bước vào tuần thánh. Trong tuần này, nhất là Tam Nhật Thánh, chúng ta sẽ nghe về một câu chuyện tình đẹp nhất trong lịch sử nhân loại. Đó là chuyện tình của một người mang tên Giêsu, Người đã chứng minh điều mình đã nói với các môn đệ: “Không có tình yêu nào cao hơn tình yêu của người hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15:13). Đây là câu chuyện tình của một người đã yêu thương những kẻ thuộc về mình và yêu thương họ đến cùng (x. Ga 13:1). Chúng ta chỉ biết và hiểu được tình yêu này khi chúng ta liên kết nó với mầu nhiệm của con người, hay đúng hơn là mầu nhiệm của tội lỗi con người. Một cách cụ thể hơn, trong phụng vụ hôm nay, chúng ta sẽ nghe hai bài Tin Mừng, một bài đọc trước khi chúng ta kiệu lá và một bài Tin Mừng đọc trong phụng vụ lời Chúa như bình thường. Hai bài Tin Mừng này đưa chúng ta vào mầu nhiệm của con người qua mọi thời đại. Trong bài Tin Mừng đọc trong nghi thức rước lá, chúng ta thấy các môn đệ và những người Do Thái lên Giêrusalem có thái độ rất phấn khởi vui mừng. Họ đón mừng và tung hô Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem như một vị vua: “Dân chúng, người đi trước kẻ theo sau, reo hò vang dậy: Hoan hô Con vua Đavít! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa! Hoan hô trên các tầng trời” (Mt 21:9). Tuy nhiên, thái độ đón mừng và tung hô này nhanh chóng thay đổi khi Philatô hỏi họ: Các ngươi muốn đóng đinh vua các ngươi sao? Thì tất cả đều hô to: đóng đinh nó vào thập giá (x. Mt 26:22). Mặc dù các môn đệ không hô to với dân chúng, nhưng hành động của họ cũng không kém phần nghiêm trọng trong cuộc thương khó của Chúa Giêsu: Giuđa phản bội Ngài, Phêrô chối Ngài, các môn đệ còn lại thì bỏ Ngài mà chạy. Những chi tiết trên cho chúng ta thấy sự tương phản giữa mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa và huyền nhiệm về sự yếu đuối tội lỗi của con người. Thiên Chúa yêu thương chúng ta đến cùng. Tình yêu của Ngài không bao giờ thay đổi. Nhưng tình yêu của con người dành cho Thiên Chúa thường thay đổi theo thời gian: có khi rất mặn mà, nhưng cũng có khi rất tẻ nhạt. Tình yêu chúng ta đang dành cho Chúa như thế nào: sâu đậm hay nửa vời? Chúng ta hãy để lời Chúa đưa chúng ta vào quỹ đạo tình yêu của Ngài hầu đáp lại với một tinh yêu thật đẹp dành cho Ngài.
Bài đọc 1 trình bày cho chúng ta hình ảnh của Người Tôi Tớ Đau Khổ của Đức Chúa. Ngôn sứ Isaia đưa ra cho chúng ta những đặc tính sau của người tôi tớ đau khổ của Đức Chúa: (1) nói năng như người môn đệ, là người dùng lời nói để “nâng đỡ ai rã rời kiệt sức” (Is 50:4); (2) được đánh thức mỗi buổi sáng để lắng nghe Đức Chúa như một người môn đệ; (3) được Đức Chúa mở tai và không cưỡng lại hay chạy trốn Đức Chúa (x. Is 50:5); (4) sẵn sàng chịu đựng những đau khổ, mắng nhiếc, phỉ nhổ mà không chống lại (Is 50:6); (5) trước những đau khổ, vẫn luôn luôn đặt trọn niềm tín thác vào Đức Chúa và không thấy thẹn thùng xấu hổ vì phải chịu sỉ nhục vì danh Đức Chúa (x. Is 50:7). Các học giả Kinh Thánh xem đây là bức hình tuyệt đẹp nhất mà Ngôn Sứ Isaia vẽ về Chúa Giêsu. Bức hình này cũng là bức hình mà Thiên Chúa mời gọi chúng ta cố gắng vẽ lại trong cuộc đời của mình. Nói cách cụ thể hơn, là những người môn đệ của Chúa Giêsu, chúng ta được mời gọi phác hoạ lại hình ảnh của Chúa Giêsu trong cuộc đời mình, nhất là cuộc thương khó sinh ơn cứu độ của Ngài. Đặc tính cần thiết nhất của người môn đệ mà chúng ta có thể rút ra từ những điểm trên là hoàn toàn tín thác trong tương quan với Thiên Chúa và hoàn toàn hiền lành, khiêm nhường trong tương quan với người khác, nhất là những người làm tổn thương chúng ta. Chỉ có sự hiền lành và làm việc tốt như là cách thức chống lại sự chống đối và làm hại người khác mới làm cho chuỗi sự dữ bị chấm dứt và cuộc sống sẽ trở nên thật đẹp. Đây là điều Chúa Giêsu thực hiện trong cuộc thương khó của Ngài.
Trong bài đọc 2, Thánh Phaolô đặt trước mặt các tín hữu Philipphê tấm gương tự hạ của Chúa Giêsu để họ noi theo. Đây chính là bài ca Kenosis [tự hạ] của Chúa Giêsu mà đã gợi hứng cho biết bao nhiêu tâm hồn tìm thấy con đường nên thánh. Tâm điểm của con đường kenosis của Chúa Giêsu là sự trút bỏ vinh quang của mình để mặc lấy bản tính con người: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế” (Pl 2:6-7). Nhiều người trong chúng ta cần học ở Chúa Giêsu sự hoàn toàn từ bỏ. Tự bản chất, Ngài là Thiên Chúa, nhưng Ngài đã trút bỏ vinh quang Thiên Chúa để trở nên giống chúng ta trong mọi sự, ngoại trừ tội lỗi. Điều này cho thấy, Ngài hoàn toàn muốn sống liên đới hoặc có thể nói là ‘đồng hoá’ chính mình với chúng ta. Còn chúng ta, tự bản chất là con người mà lại muốn làm chúa: chúng ta muốn thay Chúa điều khiển thế giới, điều khiển người khác và nhất là điều khiển vận mệnh cuộc đời chính mính mà không cần đến Ngài. Một số người trong chúng ta khi đạt đến đỉnh cao vinh quang cuộc đời lại trở nên vô cảm trước những nỗi khốn khổ của anh chị em đồng loại. Để biết cảm thông và sống liên đới với những anh chị em kém may mắn hơn mình, chúng ta cần học ở Chúa Giêsu sự hạ mình: “Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự. Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ; và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: “Đức Giêsu Kitô là Chúa” (Pl 2:8-11). Chúa Giêsu hạ mình qua sự vâng phục thánh ý Thiên Chúa. Chính trong sự hạ mình này mà Thiên Chúa được tôn vinh. Cuộc đời chúng ta cũng là một chuỗi ngày được mời gọi sống theo thánh ý Chúa. Chúng ta không thể tìm ra và thực hành thánh ý Chúa nếu chúng ta không trở nên khiêm nhường và vâng phục. Chúng ta phải sẵn sàng chết đi con người tội lỗi của mình. Chỉ có như thế, Thiên Chúa mới được tôn vinh trong cuộc đời chúng ta.
Cuối cùng, chúng ta để cho lời Chúa trong bài Thương Khó hướng dẫn suy niệm của chúng ta trong Chúa Nhật Lễ Lá này. Chúng ta không thể trình bày chi tiết toàn bộ bài Thương Khó, điều chúng ta làm là đặt mình vào vị trí của vài nhân vật được chọn lựa trong cuộc Thương Khó để xem xét lại vị trí của chúng ta trong cuộc thương khó của Chúa Giêsu như thế nào.
Bài Thương Khó của Chúa Giêsu theo Thánh Mátthêu được bắt đầu với sự kiện Giuđa Ítcariốt nộp Chúa Giêsu: “Khi ấy, một người trong Nhóm Mười Hai tên là Giuđa Ítcariốt, đi gặp các thượng tế mà nói: ‘Tôi nộp ông Giêsu cho quý vị, thì quý vị muốn cho tôi bao nhiêu.’ Họ quyết định cho hắn ba mươi đồng bạc. Từ lúc đó, hắn cố tìm dịp thuận tiện để nộp Đức Giêsu” (Mt 26:14-16). Chúng ta không cần quan tâm đến lý do tại sao Giuđa nộp Chúa Giêsu. Điều chúng ta quan tâm ở đây là ‘sự phản bội’ của một người môn đệ. Không có gì đau khổ cho bằng người mình đã dạy dỗ ba năm, từng chấm chung một đĩa ăn với mình mà phản bội mình. Đây cũng chính là hoàn cảnh của nhiều người trong chúng ta hôm nay khi bị người khác nộp và phản bội. Nhưng trong tương quan với Thiên Chúa, chúng ta phải chân nhận rằng chúng ta đã nhiều lần nộp và phản bội Chúa Giêsu. Chúng ta đã chạy theo ‘những dịp thuận tiện’ để có của cải vật chất hoặc vinh quang phú quý của đời mà nộp Chúa Giêsu.
Hình ảnh thứ hai đó là Phêrô, người Chúa Giêsu đã tuyên xưng Chúa Giêsu là Đức Kitô và đã được trao cho chìa khoá Nước Trời. Cũng theo Chúa Giêsu ba năm, được Chúa Giêsu yêu cách đặc biệt, chứng kiến các phép lạ và những sự kiện quan trọng trong cuộc đời mục vụ công khai của Chúa Giêsu. Vậy mà cuối cùng chối là không biết Chúa Giêsu. Chúng ta thấy còn nỗi đau nào cho bằng nỗi đau này!
Hình ảnh thứ ba là sự gian dối, ghen ghét, khinh bỉ, đánh đập, kết án cách bất công của các kinh sư, kỳ mục, các Thượng Tế, toàn thể Thượng Hội Đồng và Philatô.
Trước sự trao nộp và chối bỏ của hai người môn đệ, sự bỏ rơi của các môn đệ còn lại và bất công của người Do Thái, Chúa Giêsu vẫn yêu họ đến cùng, vẫn bẻ mình ra cho họ trong bữa tiệc ly, vẫn sẵn sàng nhận án bất công, và sẵn sàng chết để chứng minh tình yêu: “Cũng trong bữa ăn, Đức Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho môn đệ và nói: ‘Anh em cầm lấy mà ăn, đây là mình Thầy.’ Rồi Người cầm lấy chén, dâng lời tạ ơn, trao cho môn đệ và nói: “Tất cả anh em hãy uống chén này, vì đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội. Thầy bảo cho anh em biết: từ nay, Thầy không còn uống thứ sản phẩm này của cây nho, cho đến ngày Thầy cùng anh em uống thứ rượu mới trong Nước của Cha Thầy” (Ga 26:26-29).
Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Dũng. SDB
