Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
28 Khi ấy, Đức Giê-su sang bờ bên kia, đến vùng đất của dân Ga-đa-ra, thì có hai người bị quỷ ám từ trong đám mồ mả ra đón Người ; chúng rất dữ tợn, đến nỗi không ai dám qua lại lối ấy. 29 Chúng la lên rằng : “Hỡi Con Thiên Chúa, chuyện chúng tôi can gì đến ông ? Chưa tới lúc mà ông đã đến đây hành hạ chúng tôi sao ?” 30 Khi ấy, ở đàng xa, có một bầy heo rất đông đang ăn. 31 Bọn quỷ nài xin Người rằng : “Nếu ông đuổi chúng tôi, thì xin sai chúng tôi nhập vào bầy heo kia.” 32 Người bảo : “Đi đi !” Chúng liền ra khỏi hai người đó và nhập vào bầy heo. Thế là tất cả bầy heo từ trên sườn núi lao xuống biển và chết đuối hết. 33 Các người chăn heo bỏ chạy vào thành, kể lại mọi sự, và những gì đã xảy ra cho những người bị quỷ ám. 34 Bấy giờ, cả thành ra đón Đức Giê-su, và khi gặp Người, họ xin Người rời khỏi vùng đất của họ.
Đến Với Chúa Giêsu Để Được Chữa Lành Các Tật Xấu
(Am 5:14-15.21-24; Mt 8:28-34)
Trong bài đọc 1 hôm nay, Ngôn sứ Amốt nói cho con cái Israel [và chúng ta] về những điều cần tìm, những điều cần tránh, những điều Đức Chúa muốn. Đức Chúa muốn chúng ta “tìm điều lành chứ đừng tìm điều dữ, rồi các ngươi sẽ được sống, và như vậy Đức Chúa, Thiên Chúa các đạo binh sẽ ở cùng các ngươi, như lời các ngươi nói” (Am 5:14). Lời sấm này chỉ cho chúng ta thấy, những người tìm điều lành sẽ được sống [sự sống muôn đời] và được Thiên Chúa ở cùng để chở che. Lời sấm cũng thách đố chúng ta suy gẫm về những gì chúng ta đang tìm kiếm. Trong ngày sống [trong cuộc sống], có người trong chúng ta đi tìm tiền bạc, có người đi tìm vinh dự, lại có người khác đi tìm hạnh phúc. Có mấy người trong chúng ta đi tìm Thiên Chúa và thánh ý Ngài, để mọi hành động của chúng ta hợp với thánh ý Ngài?
Điểm thứ hai chúng ta có thể suy gẫm trong bài đọc 1 là nguyên tắc luân lý căn bản. Chúng ta thường nghe dạy rằng, hãy làm lành lánh dữ. Đây chính là nguyên tắc luân lý căn bản nhất được khắc sâu trong tâm khảm của mỗi người không phân biệt tôn giáo, màu da, văn hoá. Nguyên tắc luân lý này được diễn giãi trong lời tuyên sấm của Amốt: “hãy ghét điều dữ và chuộng điều lành, nơi cửa công, hãy thiết lập công lý; biết đâu, Đức Chúa, Thiên Chúa các đạo binh, sẽ rủ lòng thương số còn sót của Giuse” (Am 5:15). Nguyên tắc này giúp chúng ta thiết lập công lý mà Thiên Chúa muốn. Mà điều Đức Chúa muốn không phải là lễ lạc, hội hè tưng bừng, cũng không phải lễ toàn thiêu hoặc những lễ vật, mà là “lẽ phải như nước tuôn trào, cho công lý như dòng suối không bao giờ cạn” (Am 5:24). Đức Chúa muốn chúng ta sống thật, sống đúng và sống công bằng yêu thương với hết mọi người. Điều đáng buồn là nhiều khi chúng ta “dâng cúng” cho Thiên Chúa thật nhiều của lễ [qua việc đóng góp xây dựng nhà thờ và làm việc bác ái], mà không thể cho người thân của mình một nụ cười, một lời tha thứ, một chỗ trong con tim mình. Thiên Chúa không muốn những hy lễ. Ngài chỉ muốn một con tim rộng mở, tràn đầy yêu thương và tha thứ.
Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại cho chúng ta câu chuyện chữa lành hai người bị quỷ ám ở Gađara. Chi tiết đầu tiên làm chúng ta lưu ý là những chi tiết kể về hai người bị quỷ ám: “Khi ấy, Đức Giêsu sang bờ bên kia, đến vùng đất của dân Gađara, thì có hai người bị quỷ ám từ trong đám mồ mả ra đón Người; chúng rất dữ tợn, đến nỗi không ai dám qua lại lối ấy” (Mt 8:28). Những lời này cho thấy mãnh lực của ma quỷ làm cho con người kinh sợ. Sự kiện là hai người bị quỷ ám ở trong mồ mả ám chỉ quyền lực của ma quỷ luôn có một liên kết chặt chẽ với sự chết. Dù sống trong bóng đen của sự chết, hai người bị quỷ ám nhận ra chân tính Chúa Giêsu, Đấng đến để huỷ diệt quyền lực ác thần: “Chúng la lên rằng: ‘Hỡi Con Thiên Chúa, chuyện chúng tôi can gì đến ông? Chưa tới lúc mà ông đã đến đây hành hạ chúng tôi sao?’” (Mt 8:29). Những lời này ám chỉ rằng quyền lực ác thần sẽ được tự do để gây hại cho con người cho đến ngày tận thế. Chi tiết này nhắc nhở chúng ta về việc phải luôn luôn tỉnh thức trước những mãnh lực sự dữ. Chúng ta dễ dàng để cho mình bị mãnh lực sự dữ chế ngự. Một cách cụ thể là: dẫu biết mình nóng tính, dẫu biết mình hay ghen ghét, dẫu biết mình hay nói xấu người khác, dẫu biết mình chưa tha thứ, v.v., mà chúng ta không dám can đảm từ bỏ. Chúng ta nhận ra Chúa Giêsu là ai và muốn nên giống Ngài, nhưng chúng ta vẫn chưa dứt khoát để thoát khỏi quyền lực sự dữ. Hãy liên lỉ xin Chúa Giêsu giúp sức cho chúng ta.
Nhận ra chân tính của Chúa Giêsu là Đấng đến huỷ diệt chúng vào thời gian ấn định, ma quỷ đã nài xin Ngài rằng: “Nếu ông đuổi chúng tôi, thì xin sai chúng tôi nhập vào bầy heo kia” (Mt 8:31). Chúa Giêsu đã cho phép chúng và hậu quả là: “Thế là tất cả bầy heo từ trên sườn núi lao xuống biển và chết đuối hết. Các người chăn heo bỏ chạy vào thành, kể lại mọi sự, và những gì đã xảy ra cho những người bị quỷ ám. Bấy giờ, cả thành ra đón Đức Giêsu, và khi gặp Người, họ xin Người rời khỏi vùng đất của họ” (Mt 8:32-34). Câu chuyện dường như có một kết thúc buồn. Nhưng theo các học giả Kinh Thánh, việc những người trong thành xin Chúa Giêsu rời khỏi vùng đất của họ tuyệt đối không có nghĩa là hoàn toàn từ chối Chúa Giêsu, nhưng là một tình trạng hoang mang, sợ hãi đang xâm chiếm họ. Họ xin Chúa Giêsu đi khỏi cũng có thể không chỉ vì lý do là Ngài huỷ diệt cả đàn heo, là đàn vật đáng giá của họ, nhưng còn ví lý do họ biết là người Do Thái luôn khinh miệt và khinh bỉ họ vì họ giữ heo. Mà Chúa Giêsu là người Do Thái, nên họ không muốn Chúa Giêsu khinh bỉ họ khi Ngài biết họ giữ những con vật không trong sạch. Đây cũng là tư tưởng của nhiều người trong chúng ta. Chúng ta nghĩ là Thiên Chúa sẽ ghét chúng ta khi chúng ta phạm tội hay có những thói hư tật xấu. Thiên Chúa luôn yêu thương chúng ta vì Ngài là tình yêu (x. 1 Ga 4:8). Điều cần làm là khi phạm tội hoặc nhận ra những thói hư tật xấu của mình, chúng ta có can đảm để từ bỏ và trở về với Chúa hay không? Tóm lại, trong câu chuyện, quỷ đã tuyên xưng hai điều: quỷ trực tiếp tuyên xưng Chúa Giêsu là con Thiên Chúa, và gián tiếp tuyên xưng rằng heo là con vật ô uế giống như chúng. Hai chi tiết này ám chỉ đến một cảm thức luôn hiện diện trong tận thâm sâu của con người, đó là cảm thức về Thiên Chúa và cảm thức về sự yếu đuối thấp hèn của mình. Hai cảm thức này luôn đi với nhau không tách rời. Nếu một người mất một, sẽ mất luôn cảm thức kia. Hãy vun trồng cảm thức về Thiên Chúa, để nhận ra mình là ai: một tạo vật luôn cần đến Thiên Chúa!
Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Dũng. SDB
