Triết gia E. Kant từng đặt ra vấn nạn: “Chúng ta có thể hy vọng cái gì?” Trong niềm tin Kitô Giáo thì câu trả lời thỏa đáng nhất đó chính là sự Phục sinh của Đức Kitô. Nhờ cuộc Nhập thể, Tử nạn và Phục sinh của Ngài, thực tại cánh chung đã khai mào khi Thiên Chúa xích lại gần con người và đưa con người đến kết hiệp với Thiên Chúa. Nơi đức Kitô, Thiên Chúa thiết lập vương quốc trên địa cầu, tượng trưng bởi sự chiến thắng trên sự dữ và cái chết. Chính sự Phục sinh của Người đảm bảo cho sự phục sinh thân xác con người, nhờ đó người tín hữu xác tín niềm tin của mình: “Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại”.

Nền tảng niềm tin có sự sống lại khởi đi từ sự Phục sinh của Đức Kitô, điều mà thánh Phaolô đã xác tín: “Nếu Đức Kitô đã không trỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng” (1Cr 15,14). Niềm tin của chúng ta căn bản là tin vào Đấng Phục Sinh và đặt hy vọng vào Thiên Chúa Hằng Sống (x. 1 Tm 4,10). Đó là niềm tin cốt lõi và nền tảng bao trùm niềm tin Kitô Giáo. Đức Kitô là con người thực sự đã chết vì yêu nhân loại và rồi đã sống lại vinh quang, sự chết và phục sinh của Ngài không dừng lại ở câu chuyện truyền thuyết nhưng được minh chứng bằng những lần hiện ra, biến cố này được Tin Mừng nhất lãm ghi nhận, cách riêng thánh Phaolô đã rao giảng đầy khả tín: “Tôi truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận, đó là Chúa Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta đúng như lời Kinh Thánh…” (1Cr 15,3-8). Thánh Augustinô cũng xác quyết “Lòng tin của Kitô hữu là sự phục sinh của Chúa Kitô”.
Cuộc Phục sinh của Đức Kitô không chỉ chứng minh Đức Kitô là Thiên Chúa mà còn báo trước cuộc canh tân nhân loại và vũ trụ. Con người được giải thoát khỏi sự dữ và thân xác được thông dự hạnh phúc với Thiên Chúa. Như thế, niềm tin vào sự phục sinh thân xác là ơn Chúa ban một cách trọn vẹn. Đã là ơn ban thì từ ban đầu nó không thuộc về sở hữu của con người nhưng phải được Thiên Chúa mạc khải. Khởi đi từ Cựu Ước, giáo lý sự sống lại dần hé mở tuy nhiên không dành cho tất cả mà chỉ những ai trung thành với luật Chúa (x. 2Mcb 7). Bước sang Tân Ước, giáo lý này đã nên sáng tỏ, thánh Gioan nhấn mạnh sự sống được ban cho hết mọi người, nhờ niềm tin vào Chúa Giêsu: “Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết?” (Ga 11,25-26). Sự sống này không chỉ được hiểu về sự sống tự nhiên mà là sự sống của Thiên Chúa. Phaolô tiếp tục khai triển hướng đi này trong hầu hết các thư, và nội dung trọng tâm là sự phục sinh và ơn cứu độ. Thánh nhân minh chứng sự phục sinh thân xác con người đặt nền tảng trong sự Phục sinh của Đức Kitô (x.1Tx 4,13-14), là hồng ân dành cho các tín hữu của Đức Kitô chứ không phải là chuyện đương nhiên cho tất cả mọi người; chính Đức Kitô “biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người” (Pl 3,21). Thánh Phêrô tái khẳng định chân lý ấy khi minh định: “do lượng hải hà” Thiên Chúa cho chúng ta được tái sinh để nhận lãnh niềm hy vọng sống động, nhờ Đức Giêsu Kitô đã từ cõi chết sống lại (x. 1Pr 1,3-4). Sự phục sinh thân xác không chỉ là một biến cố cánh chung mà còn biểu lộ tình yêu Thiên Chúa dành cho con người; trong Đức Kitô, Thiên Chúa cho chúng ta “cùng trỗi dậy với Người” (Ep 2,5-6), và biến đổi chúng ta nên con người mới trong tương quan với Thiên Chúa, với tha nhân và thụ tạo, hầu được cùng Giáo hội chúng ta sống niềm tin “xác loài người sẽ sống lại”.
Nếu sự sống lại hoàn toàn biến đổi chúng ta và các mối tương quan của chúng ta với người khác, thì đức tin của chúng ta vào kẻ chết sống lại cũng sẽ biến đổi chúng ta và lối sống của chúng ta. Hơn cả một tín điều được xác tín và tuyên xưng, niềm tin vào việc kẻ chết sống lại phải được thể hiện rõ ràng trong cách chúng ta sống giây phút hiện tại: trước tiên chúng ta không đánh mất niềm hy vọng. Trong thực tế hiện tượng tự tử, ma túy, tệ nạn… cho thấy tình trạng đánh mất ý nghĩa sống, không tìm thấy cho mình hy vọng. Với niềm hy vọng sống động được xây dựng trên sự Phục sinh của Đức Kitô, chúng ta không từ bỏ bất cứ điều gì mà tình yêu của Thiên Chúa khơi lên trong tâm hồn mình. Hiểu như thế, chúng ta không ngã lòng trước bất cứ hoàn cảnh nào; đau khổ, tội lỗi, thất bại, mất mát… không bao giờ là tiếng nói cuối cùng. Kế đó, chúng ta học cách yêu thương người khác như anh chị em trong Đức Kitô: là con cái của sự sống lại, chúng ta sống tình liên đới với mọi người, thể hiện tình yêu thương nơi những việc bác ái, hy sinh với lòng bao dung, tha thứ, đồng thời cũng không quên tưởng nhớ, dâng hy sinh, và lời cầu nguyện cho những người đã ra đi trước chúng ta.
Tin vào sự sống lại mời gọi chúng ta thông phần vào cuộc khổ nạn của Đức Kitô mỗi khi phải đối diện với thử thách, đau khổ; sẵn sàng chịu ghét bỏ và bắt bớ vì đức tin. Một sự thật đáng nói là chúng ta dễ dàng khuyên nhủ người khác đón nhận ý Chúa trong những nghịch cảnh nhưng khi đối diện với nó, chúng ta lại sợ hãi, thất vọng và khó lòng vượt qua. Những lần thăm viếng bệnh nhân ung thư, là cơ hội để tôi dọn lòng và nhìn lại đức tin của mình. Tôi không thể chỉ dừng lại ở những lời khuyên bảo nhưng là sống niềm tin đó trong những Thánh lễ mỗi ngày khi được rước Chúa vào lòng như của ăn đàng thiêng liêng trong hành trình tiến về quê trời. Niềm tin đó càng xác tín hơn khi hiệp thông trong cử hành an táng, sau sự đồng cảm về nỗi mất mát chia ly là niềm hy vọng được chia sẻ vinh quang Thiên Quốc (x. GLHTCG 2300). Cách đặc biệt, giáo huấn của Giáo hội luôn nhấn mạnh người tín hữu tôn trọng và sử dụng thân xác của mình để phụng sự Thiên Chúa và phục vụ tha nhân. Thánh Phaolô kết nối đời sống luân lý với niềm tin vào sự sống lại khi khẳng định rằng: “Thân xác con người không phải để gian dâm mà để phụng sự Chúa, vì Chúa làm chủ thân xác (1Cr 6,13). Thân xác chúng ta thuộc về Đức Kitô và là đền thờ của Chúa Thánh Thần, nên chúng ta không tùy ý sử dụng thân xác mình vào những việc vô luân hay phó mặc mình cho bất kỳ hình thức ô uế nào trong thế giới này. Thân xác chúng ta được tạo dựng để yêu thương, chứ không để phục lụy dục vọng thấp hèn. Đời sống của người tu sĩ hôm nay là minh chứng cho niềm tin về sự sống mai hậu, ngang qua việc tiết chế thân xác người tu sĩ dâng cho Thiên Chúa tình yêu trọn vẹn và mở lòng với tha nhân bằng con tim vị tha và cứu độ.
Niềm tin vào sự phục sinh không chỉ là loan báo một sự kiện, cũng không dừng lại ở lời tuyên tín thuộc lòng “tôi tin xác loài người ngày sau sống lại,” nhưng là lời chứng có ý nghĩa như lời dạy của thánh Phaolô: “Nếu anh em đã phục sinh cùng với Đức Kitô, thì hãy sống như những người đã phục sinh” (Cl 3,1-4), đó chính là mặc lấy con người mới đã được Đức Kitô Phục sinh biến đổi, dám bước qua tăm tối của cuộc đời, sống vui tươi, can đảm, và kiên nhẫn trong mọi nghịch cảnh với niềm mong đợi hạnh phúc vĩnh cửu nơi Thiên Chúa.
Học Viện Bêtania FMV
