Trong những năm qua, thế giới đang không ngừng phải đối diện với bao khó khăn đau khổ do thiên tai, dịch bệnh. Đại dịch Covid 19, siêu bão Zagi… đã cướp đi hàng triệu sinh mạng, nền kinh tế, văn hóa, xã hội…đang càng ngày càng đi xuống. Con người sống trong sự lo âu, sợ hãi và mất đi niềm hy vọng. Vì vậy, họ khao khát và không ngừng đi tìm sự bình an và niềm hy vọng cho cuộc đời. Thế nên, mỗi người Kitô hữu không ngừng được mời gọi sống và gieo rắc niềm hy vọng giữa một thế giới vắng bóng niềm hy vọng. Truyền thông là hạn từ được nhắc tới nhiều trong mọi thời đại, nhất là trong thời đại kỹ thuật số. Khi nhắc đến ý niệm này, con người thường nghĩ đến việc truyền tải những tin tức trên các phương tiện thông tin đại chúng. Tuy nhiên, có nhiều cách thế để thông truyền niềm hy vọng: truyền thông bằng lời nói, bằng những việc làm cụ thể, bằng việc loan truyền một sứ điệp yêu thương và hy vọng cho con người, đôi khi thinh lặng cũng là một cách thế để truyền thông hữu hiệu. Vì vậy, sứ mạng của mỗi Kitô hữu, cách riêng là những người tu sĩ phải trở nên dấu chỉ thông truyền niềm hy vọng của Thiên Chúa cho con người trong thế giới kỹ thuật số hôm nay, như lời mời gọi của Đức Thánh Cha Phanxicô: “Chúng ta hãy hướng lòng mình lên Chúa Kitô và trở thành những người cao rao của hy vọng trong một nền văn minh bị đánh dấu bởi quá nhiều tuyệt vọng”[1]
I. TỔNG QUAN VỀ TRUYỀN THÔNG VÀ XÃ HỘI
Con người đang sống trong một thế giới ngày càng trở nên “nhỏ bé hơn,” nơi họ được gặp gỡ, chia sẻ và gần gũi nhau hơn. Trong thời đại công nghệ kỹ thuật số, xã hội càng ngày càng phát triển, con người được đáp ứng mọi nhu cầu cả về tinh thần lẫn vật chất. Nhờ sự tiến bộ của công nghệ mà việc truy cập các phương tiện truyền thông giúp con người có thể chia sẻ tin tức cho nhau ngay lập tức và làm cho những thông tin đó được lan rộng. Quả vậy, thời đại công nghệ kỹ thuật số dường như đã làm thay đổi cuộc sống con người. Bên cạnh những tác động tích cực, phương tiện truyền thông cũng mang lại những ảnh hưởng tiêu cực, nó dường như đang làm mất dần niềm hy vọng trong cuộc sống của con người đặc biệt là những người trẻ. Trong tông huấn Christus Vivit, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhấn mạnh: người trẻ cần được khích lệ để nhận ra ánh sáng giữa những bóng tối của thời đại này.[2] Thực vậy, niềm hy vọng ân huệ Chúa ban và là một yếu tố cần thiết trong đời sống đức tin của con người, hy vọng giúp con người khám phá ý nghĩa đích thực của cuộc đời, để họ tìm lại động lực cho chính bản thân, giúp họ vượt qua những thách đố của cuộc sống để vươn lên và sống một cuộc đời có ý nghĩa hơn.
1. Con người trong xã hội hôm nay thiếu niềm hy vọng
Con người đang từng ngày phải đối diện với bao nhiêu khó khăn, đau khổ có thể do chính nơi bản thân chủ thể, cũng có thể do những tác nhân bên ngoài tạo ra, nhưng chung quy lại đau khổ luôn hiện diện trong cuộc sống con người như một người bạn. Đó là một thực tại của cuộc sống và hòa quyện với các thực tại khác tạo nên sự đa dạng của cuộc đời. Khi đối diện với những đau khổ, con người dường như không thể tìm được lời giải đáp cho những vấn nạn đó; vì thế dần dần họ đánh mất niềm hy vọng vào cuộc sống và không còn khám phá ra những điều tuyệt vời xung quanh mình. Thêm vào đó, thế giới kỹ thuật số đã đẩy con người lên một bước tiến mới, nó mang đến nhiều cơ hội để con người được phát triển toàn diện cả về kiến thức lẫn kỹ năng. Tuy nhiên, nó cũng mang lại những hậu quả khôn lường: con người dần sống trong sự cô lập giữa những kết nối, họ mất đi những tương tác trực tiếp và chỉ sống với những mối tương quan ảo. Vì thế, càng ngày họ càng đánh mất đi khả năng tương tác trực tiếp với Thiên Chúa, với tha nhân và với chính mình nên họ không còn khả năng để nhìn thấy những tia sáng của niềm tin và niềm hy vọng vào Thiên Chúa, vào con người và những gì diễn ra xung quanh mình.
Hơn nữa, con người đang sống trong một thế giới với những “cuộc cách mạng nhanh” nhờ các phương tiện truyền thông. Vì thế, họ dần mất đi sự kiên nhẫn với chính mình và với người khác, họ vội đến nhưng cũng vội đi qua đời nhau; điều này dẫn đến việc con người cảm thấy trống rỗng, cô đơn, lạc lõng. “Các phương tiện truyền thông kỹ thuật số có thể khiến mọi người bị lệ thuộc, cô lập và mất dần sự tiếp xúc với đời sống thực tế cụ thể, và như thế chúng cản trở sự phát triển của các mối quan hệ đích thực giữa người với người”[3].
Con người trong thời đại kỹ thuật số dường như đánh mất ý nghĩa thực sự của niềm hy vọng Kitô giáo, họ đặt niềm hy vọng nơi những giá trị trần tục mà quên đi Cội Nguồn của niềm hy vọng chính là Đức Giêsu Kitô. Chỉ nơi Ngài con người mới tìm được ý nghĩa và giá trị đích thực cho cuộc đời mình, dù thế giới có đổi thay thì trong Chúa Kitô hy vọng của con người sẽ không thay đổi nhưng vững bền mãi mãi như lời Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã khẳng định: “Chỉ trong Chúa Kitô, con người mới tìm thấy ý nghĩa thực sự của hy vọng”[4]. Như vậy, khi con người có niềm hy vọng Kitô giáo, họ sẽ ý thức sứ mạng của mình là gieo niềm hy vọng, không chỉ bằng lời nói nhưng còn bằng chứng tá đời sống ngang qua những phương tiện truyền thông đang phổ biến hiện nay.
2. Công nghệ số gieo niềm hy vọng Kitô giáo cho con người
Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI đã khẳng định: “Internet đúng là quà tặng tuyệt vời của Đấng Tạo Hóa và trí sáng tạo của con người. Thế nhưng cái gì cũng có mặt trái của nó, với tốc độ hết sức nhanh và với lượng thông tin khổng lồ như thế, Internet có thể làm cho con người trở nên hời hợt, phân tán và lệ thuộc”[5]. Quả vậy, Internet như đồng tiền hai mặt, một mặt nó mang lại những giá trị để xây dựng giá trị con người; mặt khác, nó cũng làm cho con người sống trong sự cô đơn, mất phương hướng và không còn thấy ý nghĩa của cuộc đời. Trong thế giới kỹ thuật số, hy vọng trở thành một ngọn hải đăng soi đường dẫn lối, giúp con người định hướng trước những cơn sóng dữ của công nghệ và thông tin. Hy vọng không phải là cảm giác chờ đợi điều tốt đẹp xảy đến cho mình nhưng còn là niềm tin chắc chắn vào kế hoạch cứu độ và tình yêu quan phòng của Thiên Chúa.
Vì thế, gieo niềm hy vọng là sứ vụ của mọi người ở khắp mọi nơi như lời mời gọi của Đức Thánh Cha Phanxicô trong ngày quốc tế truyền thông lần thứ 51: thông truyền niềm hy vọng và sự tin tưởng trong thời đại chúng ta. Ngài khuyến khích mọi người dấn thân bằng các hình thức truyền thông mang tính xây dựng, để loại trừ những thành kiến đối với nhau, cổ võ văn hóa gặp gỡ, giúp con người nhìn thế giới xung quanh bằng sự tin tưởng và hy vọng[6]. Quả vậy, có nhiều cách thế để loan truyền niềm hy vọng. Tuy nhiên, công nghệ kỹ thuật số là một cách thế hợp thời và hữu hiệu đối với con người hôm nay đặc biệt là những người trẻ. Vị thánh trẻ Carlo Acutis là một tấm gương sống động cho con người trong thời đại kỹ thuật số, ngài đã sử dụng phương tiện truyền thông như một công cụ hữu hiệu để loan truyền tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa, cũng như thắp lên ngọn lửa hy vọng cho con người, ngài cho mọi người thấy rằng kỹ thuật số có thể trở thành phương tiện để người trẻ sống niềm hy vọng Kitô giáo một cách sáng tạo. Gương sống của thánh nhân là lời mời gọi người trẻ hôm nay trở nên nhân chứng Tin mừng bằng việc dùng các phương tiện truyền thông để gieo niềm hy vọng Kitô giáo, để giúp con người tìm thấy đâu là hạnh phúc thật của cuộc đời, dùng phương tiện truyền thông như một công cụ hữu ích, như một người bạn, thay vì để nó làm chủ cuộc đời mình[7]. Huấn thị mục vụ ‘Aetatis Novae’ về truyền thông xã hội cũng đã nói rõ sứ mạng của mỗi người Kitô hữu:
“Dân Thiên Chúa có nhiệm vụ phải vận dụng cách sáng tạo những khám phá và kỹ thuật mới mẻ ấy để mưu ích cho nhân loại và hoàn thành kế hoạch của Thiên Chúa đối với thế gian…tận dụng tất cả tiềm năng của ‘thời đại điện toán’ nhằm phục vụ ơn gọi nhân linh và siêu việt của mọi nhân vị, và như thế tôn vinh Chúa Cha về tất cả những điều thiện hảo đang đến”[8]
Như vậy, truyền thông tự thân là tương quan liên vị giữa các chủ thể, nhờ đó con người thông truyền sự sống và niềm hy vọng cho nhau và cùng nhau chuyển tải sứ điệp yêu thương của Thiên Chúa dành cho nhân loại.[9]
II. NGUỒN CỘI TRUYỀN THÔNG NIỀM HY VỌNG
Mọi hoạt động truyền thông bắt nguồn từ mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, là căn nguyên của mọi tạo vật và mọi hiện hữu là sâu sắc, liên tục và trọn vẹn giữa các Ngôi Vị thánh thiện. Trong chiều kích Ba Ngôi, Thiên Chúa được nhìn nhận như là một vị Thiên Chúa truyền thông trong chính mình. Cha, Con và Thánh Thần truyền thông lẫn nhau trong các chuyển động nội tại của Ba Ngôi. Chúa Thánh Thần là hoa trái hoàn hảo của cuộc đối thoại tình yêu giữa Chúa Cha và Chúa Con. Sự hiệp thông sâu xa và sự trao đổi sống động của mầu nhiệm Thiên Chúa là cội rễ của tất cả truyền thông của con người, Thiên Chúa tự truyền thông chính mình qua tạo dựng và ân sủng.[10]
1. Đức Giêsu – Cội Nguồn phát xuất niềm hy vọng
Tất cả chúng ta đều cần hy vọng, nhưng không phải bất kỳ niềm hy vọng nào. Kinh nghiệm chứng tỏ rằng những phẩm tính cá nhân và của cải vật chất không đủ để bảo đảm niềm hy vọng mà tâm hồn con người luôn luôn tìm kiếm. Niềm hy vọng ấy chỉ có thể là Thiên Chúa, Đấng bao trùm toàn thể vũ trụ trao tặng chúng ta điều mà tự mình chúng ta không thể đạt tới.[11]
Quả vậy, hy vọng là trung tâm của đời sống con người, nếu như không có hy vọng thì những gì con người đang từng ngày cố gắng, kiếm tìm đều trở nên hão huyền, vô nghĩa. Đức Giêsu Kitô chính là Cội Nguồn phát xuất niềm hy vọng vĩnh cửu cho con người, chỉ nơi Ngài mới có niềm hy vọng đích thực và Ngài là Tin Mừng cho nhân loại đang ngập chìm trong vũng lầy của đau khổ và sự chết. Với Thần Khí và trong Thần Khí, Ngài là mẫu gương truyền thông niềm hy vọng cho con người “Ngôi Lời đã mặc lấy xác phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (x. Ga 1, 1-18). Biến cố Nhập Thể là dấu chứng của việc Thiên Chúa truyền thông tình yêu và niềm hy vọng cho con người. Đức Giêsu đến trần gian để mang Lời hy vọng cho con người, Ngài là Đấng Mê-si-a mà muôn dân hằng mong đợi, Ngài đến để hoàn tất lời hứa cứu độ của Thiên Chúa cho nhân loại. Trong hành trình trần thế, Đức Giêsu không chỉ cho con người biết rằng Ngài là nguồn hy vọng hay đem lại hy vọng mà Ngài chính là Hy Vọng. Ngài là chứng nhân của niềm hy vọng, cái chết và sự Phục sinh của Ngài là đỉnh cao của mọi niềm hy vọng Kitô giáo như lời thánh Phaolô đã khẳng định: “Đức Kitô là đối tượng duy nhất của niềm hy vọng chúng ta” (x. Cl 1, 27).
Có thể nói, toàn bộ cuộc đời Chúa Giêsu đã chuyển tải sứ điệp cứu độ và tình yêu mà Thiên Chúa dành cho nhân loại và đỉnh cao của việc thông truyền đó chính là biến cố Tử Nạn và Phục sinh của Ngài.
“Nếu Đức Kitô đã không trỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền. Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Đức Kitô chỉ vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người. Nhưng không phải thế! Đức Kitô đã trỗi dậy từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu” (1Cr 15,17-20).
Nhờ cái chết và sự Phục Sinh của Đức Giêsu Kitô mà con người tìm được niềm hy vọng đích thực vì tin chắc họ cũng sẽ được Phục sinh với Ngài, như lời Ngài đã hứa “Thầy đi dọn chỗ cho anh em, Thầy sẽ trở lại đón anh em, để Thầy ở đâu thì anh em cũng sẽ ở đó với Thầy” (x.Ga 14,1- 4).
Như vậy, Đức Kitô chính là nguồn Hy Vọng, một niềm Hy Vọng mà ai cũng có thể chạm tới ngay trong những thực tại của họ. Chỉ duy niềm Hy Vọng ấy mới “không làm con người thất vọng bởi vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu vào lòng chúng ta” (Rm 5, 5) và làm cho cuộc đời chúng ta được ngập tràn ánh sáng và niềm vui.
2. Giáo hội – bí tích của niềm hy vọng
Công đồng Vaticanô II đã khẳng định: Giáo hội là “bí tích cứu độ phổ quát”[12]. Giáo hội là bí tích của Đức Giê-su, mà Đức Giê-su lại là niềm hy vọng của nhân loại. Vì thế, Giáo Hội cũng là bí tích của niềm hy vọng. Quả vậy, giữa một thế giới thiếu vắng niềm hy vọng, Giáo hội được mời gọi trở nên dấu chỉ hữu hình của niềm hy vọng cho con người trong thời đại hôm nay, như lời Đức Giêsu truyền dạy: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ loan báo Tin mừng cho mọi loài thụ tạo” (Mc 16,15). Như vậy, sứ mạng của Giáo hội là ra đi loan báo niềm vui, niềm hy vọng của Đấng Phục sinh cho mọi loài, mọi vật. Sắc lệnh Inter Mirifica cho biết: “Giáo Hội được Chúa Kitô thiết lập để mang ơn cứu rỗi đến cho tất cả mọi người, và do đó nhận thấy mình có bổn phận phải sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội để loan truyền sứ điệp cứu độ,”[13] vì thế bổn phận truyền thông của Giáo hội là tiếp nối sứ mạng của Thiên Chúa để biến đổi thế giới ngày càng tốt đẹp hơn.
Đức Bênêđictô XVI trong thông điệp Spe Salvi đã viết: Hy vọng Kitô giáo không phải là ảo tưởng, mà là một thực tại cụ thể bắt nguồn từ việc chúng ta được Thiên Chúa yêu thương và cứu độ[14]. Bằng chính chứng tá đời sống yêu thương, phục vụ hết mọi người nhất là những con người bị gạt ra bên lề xã hội, Giáo hội loan báo về một Thiên Chúa yêu thương, Ngài gánh lấy những đau khổ của con người và trên hết đã dùng cái chết của mình để cứu độ nhân loại. Đó là niềm vui và hy vọng mà không ai có thể lấy mất như khẳng định của Đức Giáo hoàng Phanxicô: “Trong Đức Kitô niềm vui luôn được tái sinh”.[15] Bên cạnh đó, Giáo hội cũng chia sẻ “vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô”.[16] Giáo hội ôm lấy những đau khổ của con người để cho con người thấy được khuôn mặt Đức Kitô sống động trong một thế giới đầy biến động. Giáo hội là một cộng đoàn của những người được yêu thương và được sai đi để mang hy vọng đến cho thế giới[17]. Giáo hội hiện diện trên trần thế như những người lữ hành mang trong mình niềm hy vọng bằng con đường “hiệp thông của sự hy vọng”. Trong chiều hướng này, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã kêu gọi các tín hữu trên thế giới hãy trở thành những sứ giả vui mừng của hy vọng trong một thế giới đầy sợ hãi và tuyệt vọng.
Mỗi người chúng ta đều cần hy vọng trong cuộc sống của mình, đôi khi rất mệt mỏi và tổn thương, trái tim chúng ta khao khát sự thật, lòng tốt và vẻ đẹp, và những giấc mơ mà không bóng tối nào có thể xua tan. Mọi thứ, bên trong và bên ngoài chúng ta, đều kêu gào hy vọng và tiếp tục tìm kiếm sự gần gũi của Chúa, ngay cả khi không biết điều đó. [18]
Như vậy, Giáo Hội là hiện thân của niềm hy vọng, qua Giáo hội con người tìm thấy được dấu chỉ của niềm Hy vọng vĩnh cửu và ý nghĩa cho mọi cố gắng trong cuộc đời của họ.
III. TRUYỀN THÔNG NIỀM HY VỌNG NGANG QUA ĐẶC SỦNG CỦA HỘI DÒNG
Đặc sủng là con đường giúp con người truy tìm ý nghĩa cuộc sống của chính bản thân họ[19]. Quả vậy, đặc sủng là một ân huệ Thiên Chúa ban ngang qua Đấng Sáng Lập, do đó cần được thông truyền đến với những đối tượng mà các tu sĩ phục vụ. Để có thể “Cùng Mẹ lan tỏa Đức Kitô”[20] mỗi tu sĩ trong Hội Dòng Con Đức Mẹ Đi Viếng phải là người có Chúa và sống niềm hy vọng vào Đấng mà mỗi người đang bước theo mỗi ngày.
1. Sống niềm hy vọng theo gương Mẹ Maria
Đức Maria được sánh ví như “Ngôi sao của niềm hy vọng,”[21] Mẹ là phản chiếu ánh huy hoàng của Ngôi Lời hằng hữu để dẫn đưa con người vượt qua giông bão cuộc đời và cập bến bình an, nơi cõi phúc thật là quê hương Nước Trời. Và vì thế “Mẹ sáng chói như dấu chỉ của niềm hy vọng vững chắc và niềm an ủi cho dân lữ hành của Thiên Chúa”[22]. Mẹ là trung gian truyền thông ân sủng của Thiên Chúa và con người trong cuộc lữ hành trần thế, đặc biệt qua biến cố truyền tin và nhất là dưới chân Thập Giá. Bởi vì Mẹ đã sống và xác tín rằng: “những đau khổ ở đời này không thể sánh với vinh quang sắp tới sẽ được mạc khải cho chúng ta” (Rm 8,18). Noi gương Mẹ, mỗi tu sĩ Con Đức Mẹ Đi Viếng cũng được mời gọi gieo rắc niềm hy vọng ngay chính trong môi trường sống và sứ mạng của mình, để làm cho mọi người thấy vẻ đẹp của Vương Quốc Thiên Chúa hiện diện hữu hình nơi trần gian.[23] Hơn nữa, bằng việc đón nhận những đau khổ xảy đến trong cuộc đời với niềm xác tín “hy vọng không làm ta thất vọng” (Rm 5,5), mỗi tu sĩ loan báo cho con người trong thế giới hôm nay biết niềm Hy Vọng đích thực là chính Đức Giêsu – Đấng Cứu Độ duy nhất cho con người.
2. Bước đường hy vọng trên đường phục vụ
“Hồi ấy, Đức Ma-ri-a vội vã lên đường” (Lc 1,39). Lấy cảm hứng từ sự dấn thân của Mẹ Đi Viếng, việc truyền thông đặc sủng phải giúp mỗi tu sĩ Con Đức Mẹ Đi Viếng có được “hồn tông đồ.” “Một tâm hồn thao thức về hạnh phúc của tha nhân và chuyển cầu cho họ. Một tâm hồn sẵn sàng dấn thân phục vụ”[24] . Quả vậy, Đức Maria đã vội vã mang Chúa đến cho người khác, mỗi tu sĩ Dòng Con Đức Mẹ Đi Viếng cũng bước theo con đường Mẹ đã đi là “lan tỏa Đức Kitô cho mọi người nhất là những anh chị em lương dân và những người nghèo khổ”[25]. Như vậy, mỗi tu sĩ được mời gọi trở nên nhân chứng sống động của niềm hy vọng, trước hết ngay trong chính những thực tại của mình, bằng việc đón nhận những khó khăn dưới cái nhìn tích cực và niềm hy vọng, để từ đó họ truyền cảm hứng tích cực tới những người mà họ phục vụ.
Ngoài ra, truyền thông đặc sủng, trước hết, được biểu lộ qua tình huynh đệ cộng đoàn.[26] Đời sống cộng đoàn là môi trường truyền thông đầu tiên của người tu sĩ, là một dấu chứng hùng hồn cho con người về thực tại Nước Trời mai sau. Trong Huấn thị Đời Sống Huynh Đệ số 32 có nhắc đến khía cạnh của sự truyền thông: “Sự truyền thông nảy sinh nhất là trong việc chia sẻ các hồng ân của Thần Khí, chia sẻ đức tin và trong đức tin, ở đâu chúng ta càng chia sẻ những điều cốt lõi và sống động, ở đó mối dây huynh đệ càng lớn mạnh.” Truyền thông là chia sẻ và chia sẻ đòi hỏi lắng nghe và đón nhận[27]. Trên bước đường phục vụ, mỗi tu sĩ Con Đức Mẹ Đi Viếng được mời gọi “chia sẻ với những người dân địa phương không chỉ trong mức sống mà cả những vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của họ. Bằng những lần thăm viếng, để hiểu rõ hoàn cảnh và giúp đỡ họ trong khả năng của mình”[28].
3. Gieo hy vọng bằng thế giới số
Trong Hiến chế Lumen Gentium cho biết bổn phận của các Kitô hữu là “phải làm chứng về Đức Kitô và trả lời cho những người chất vấn họ về niềm hy vọng cuộc sống vĩnh cửu (x.1 Pr 3,15). [29] Quả vậy, trong thời đại kĩ thuật số, mỗi người Kitô hữu và cách riêng là mỗi tu sĩ đươc mời gọi gieo niềm hy vọng qua các phương tiện truyền thông đại chúng, việc sử dụng email, tin nhắn, mạng xã hội với những thông tin xây dựng, những bài viết đem lại tia sáng hy vọng…là những phương thế hữu hiệu giúp con người tìm lại niềm vui và ý nghĩa đích thực cho cuộc đời. Thế giới kĩ thuật số là một quảng trường nơi đó con người có thể thông truyền cho nhau giá trị tích cực, tạo mối tương giao và chia sẻ với nhau những vui buồn trong cuộc sống, đây cũng là nơi con người được tăng trưởng trong đời sống đức tin nhờ việc tham dự các buổi chia sẻ Lời Chúa, những giờ cầu nguyện hay thánh lễ…Tuy nhiên, Thánh Công Đồng Vaticano II đã khuyến khích mọi con cái trong Giáo Hội: sử dụng những phương tiện truyền thông xã hội cách đắc lực vào các công việc tông đồ khác nhau tùy theo những đòi hỏi cụ thể của hoàn cảnh và thời gian.[30] Vậy nên, việc cân nhắc về nội dung, mục đích, khán thính giả, địa điểm, thời gian và tính luân lý trong truyền thông là điều thật sự cần thiết. [31] Hơn hết, điều quan trọng là tinh thần dấn thân của mỗi tu sĩ trong việc sử dụng các phương tiện truyền thông đó với sự khôn ngoan và tinh tế cho sứ mạng loan báo Tin Mừng.
Tóm lại, “Người hy vọng là cộng tác viên của Thiên Chúa,”[32] gieo hy vọng là sứ mạng của mọi người. Vì vậy, mỗi tu sĩ đặc biệt là tu sĩ Con Đức Mẹ Đi Viếng, tham gia vào công việc của Thiên Chúa và trở nên cộng tác viên của Thần Khí ngang qua việc sống và lan tỏa niềm hy vọng trên hành trình sứ vụ của mỗi chị em.
TẠM KẾT.
Phương tiện truyền thông có một tầm ảnh hưởng sâu rộng trên nhiều lĩnh vực. Nó đã lan truyền đến mọi ngóc ngách của thế giới, phủ sóng và ảnh hưởng sâu đến mọi đối tượng; nó đã trở nên phổ biến đối với mọi người ở mọi nơi. Trong thế giới hôm nay, truyền thông niềm hy vọng là lời mời gọi rất thiết thực trong bối cảnh con người đang thiếu vắng niềm hy vọng. Mỗi Kitô hữu đều được mời gọi tham dự vào sứ mạng đó bằng chính đời sống chứng tá của mình. Năm Thánh 2025 mở ra với chủ đề: “Hy vọng không làm con người thất vọng” là lời mời gọi mọi người hãy sống, loan truyền và trở nên dấu chỉ hy vọng cho con người. Hơn ai hết, tu sĩ là những người tự nguyện “theo sát Đức Ki-tô” cách triệt để, vì thế đời sống của họ là dấu chứng hữu hình về niềm hy vọng Kitô giáo ngang qua đời sống phục vụ trong yêu thương, đồng thời cho mọi người thấy thực tại Nước Trời ngang qua việc sống các lời khuyên Phúc Âm. Cách đặc biệt, mỗi người nên tận dụng “món quà cao quý Thiên Chúa ban” là các phương tiện truyền thông để làm cho niềm hy vọng của con người không trở nên hão huyền, giúp họ can đảm đứng lên sau mỗi lần sa ngã để hướng tới niềm vui vĩnh cửu mà Thiên Chúa hứa ban cho con người.
Học viện Bêtania FMV
[1] x. HÀ VĂN MINH, Giáo Hội – Người Lữ Hành Trên Đường Hy Vọng, https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/giao-hoi-nguoi-lu-hanh-cua-niem-hy-vọng
[2] x. PHANXICÔ, Tông huấn Christus Vivit, số 125.
[3] PHANXICÔ,Tông huấn Christus Vivit, số 88.
[4] GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Redemptor Hominis, số 10.
[5] BÊNÊĐICTÔ XVI, Sứ điệp Truyền Thông 2012 Thinh lặng để truyền thông.
[6] X. PHANXICÔ, Sứ điệp cho ngày quốc tế về truyền thông lần thứ 51 Thông truyền niềm hy vọng và sự tin tưởng trong thời đại chúng ta
[7] X.TRẦN HOÀNG PHẠM GIA THI, SDB. Hy Vọng Trong Thời Đại Kỹ Thuật Số: Những Đề Xuất Mục Vụ Cho Giới Trẻ. Tải xuống tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/hy-vong-trong-thoi-dai-ky-thuat-so-nhung-de-xuat-muc-vu-cho-gioi-tre
[8] x. HỘI ĐỒNG GIÁO HOÀNG VỀ TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI, Huấn thị Thời đại mới (Aetatis Novae), về việc truyền thông xã hội, 1992, số 3.
[9] FX. ĐÌNH LƯƠNG, OFM. Vai trò của truyền thông trong cộng đoàn thánh hiến, tr.79.
[10] x. FRANZ-JOSEF EILERS, S.V.D, Truyền thông trong mục vụ và truyền giáo, tr 24-30.
[11] BÊNÊĐICTÔ XVI, Thông Điệp Spe Salvi, số 31.
[12] CÔNG ĐỒNG VATICAN II, Hiến chế Tín lý Về Giáo Hội Lumen Gentium, số 1.
[13] CÔNG ÐỒNG VATICANO II, Sắc Lệnh Inter Mirifica, Về Các Phương Tiện Truyền Thông Xã Hội, số 3.
[14] x. BÊNÊĐICTÔ XVI, Thông điệp Spe Salvi, Về Hy Vọng Kitô Giáo số 2-3.
[15] PHANXICÔ, Tông huấn Evangelii Gaudium, Về Niềm Vui Tin Mừng, số 1.
[16] CÔNG ĐỒNG VATICAN II, Hiến chế Mục vụ Gaudium Et Spet, Về Giáo Hội Trong Thế Giới Ngày Nay, số 4.
[17] x. HÀ VĂN MINH, Giáo hội – Người Lữ Hành Trên Đường Hy Vọng, https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/giao-hoi-nguoi-lu-hanh-cua-niem-hy-vọng
[18] Ibid.
[19] x.NGUYỄN HỮU QUANG, FSC, Linh Đạo Kitô Giáo, Nxb Tôn giáo, tr.3.
[20] Tôn chỉ của Dòng Con Đức Mẹ Đi Viếng.
[21] BÊNÊĐICTÔ XVI, Thông điệp Spe Salvi, về Hy vọng Kitô Giáo, số 49.
[22] CÔNG ĐỒNG VATICANÔ II, Hiến Chế Mục Vụ Gaudium et Spes, Về Giáo Hội Trong Thế Giới Ngày Nay, số 64.
[23] PHANXICÔ, Sứ Điệp Nhân Ngày Cầu Cho Ơn Gọi Lần Thứ 61: Được Kêu Gọi Gieo Hy Vọng Và Xây Dựng Hòa Bình.
[24] DÒNG CON ĐỨC MẸ ĐI VIẾNG, Hiến Chương, 2021, điều 5, họa ảnh 4 và 5.
[25] Ibid, điều 3.
[26] x. BỘ CÁC HỘI DÒNG TẬN HIẾN VÀ CÁC TU ĐOÀN TÔNG ĐỒ, Huấn Thị Vita Fraterna in Communitate, về Đời Sống Huynh Đệ trong cộng đoàn, 1994, số 11.
[27] PHANXICÔ, Từ Các Cộng Đồng Mạng Xã Hội Đến Cộng Đoàn Nhân Loại, Sứ Điệp Nhân Ngày Thế Giới Truyền Thông Xã Hội Lần Thứ 53, 2016
[28] DÒNG CON ĐỨC MẸ ĐI VIẾNG, Hiến Chương, 2021, điều 34
[29] CÔNG ĐỒNG VATICAN II, Hiến Vhế Tín Lý Về Giáo Hội Lumen Gentium, số 10.
[30] CÔNG ÐỒNG CHUNG VATICANÔ II, Sắc Lệnh Inter Mirifica, Về Các Phương Tiện Truyền Thông Xã Hội, 4/12/1963, số 13, Bản dịch của Giáo Hoàng Học Viện Piô X.
[31] x. Ibid số 4.
[32] NGUYỄN VĂN THUẬN, Đường Hy Vọng, Nxb Tôn giáo, Nxb 2019.
