“Lên Nam Đông nghe rừng thì thầm kể
Chuyện đất nghèo nay đã khác ngày xưa.”
Mỗi lần đọc lại trang sử của Cộng đoàn trong những ngày đầu các Chị đặt chân đến vùng đất truyền giáo này (năm 2000), lòng tôi lại trào dâng một cảm xúc khó tả. Qua nhiều lần thăm viếng, tôi có dịp được lắng nghe những câu chuyện đầy xúc động từ các ông, các bà – những người tiên phong đầu tiên đến vùng kinh tế mới Nam Đông. Thấm thoát đã 50 năm trôi qua! (1975–2025).
Nam Đông không chỉ là vùng đồi núi với thiên nhiên hùng vĩ, mà còn là nơi đan xen biết bao câu chuyện đời thường bình dị và chất phác. Cuộc sống của bà con nơi đây vẫn còn nhiều vất vả, nhưng trái tim họ luôn đầy ắp tình người. Không chỉ là tình làng nghĩa xóm giữa bà con với nhau, mà tình cảm ấy còn được trao gửi đến Quý Cha, Quý Chị – những người không cùng quê quán, có khi không chung niềm tin tôn giáo và cũng không cùng bậc sống. Tất cả những điều đó đã tạo nên một bản sắc riêng, đậm đà tình người của Nam Đông.
Sống giữa lòng xóm nhỏ, Cộng đoàn luôn nhận được sự yêu thương chân thành của bà con. Dù chỉ là một nải chuối chín mọng, một mớ rau tươi vừa hái, vài quả thơm hay ít củ khoai, củ sắn đơn sơ, bà con vẫn dành tặng các Chị bằng tất cả tấm lòng. Không câu nệ khách sáo, không bóng bẩy phô trương, chỉ là sự thật thà và nghĩa tình giữa người với người.
Có lần, một mệ trong xóm (chị em trong Cộng đoàn thường gọi là mệ điếc) đến cho mớ rau khoai, vừa cười hiền hòa vừa nói to:
– “Mấy ngày ni trời mưa, rau lên tươi, hái biếu các chị cho vui. Trong vườn nhà có chi ăn nấy.” Tuần vài lần, đều đặn, mệ lại mang đến những món quà giản dị: khi thì bó rau, lúc là trái bầu, trái bí, …
Có bác (nguyên Chủ tịch Mặt trận huyện) mỗi tháng đều đặn mang đến cho các chị 10 –15 quả trứng gà và một bó rau muống. Lâu lâu, bác còn cho thêm trái đu đủ hoặc ít quả chanh.
Trong lần đi thăm viếng, một dì nói: “Các chị đợi em ra vườn chặt cho buồng chuối. Năm nay em trồng nhiều chuối, nhưng đến gần thu hoạch thì bị bão, gãy hết. Các chị muốn chở bao nhiêu buồng cũng được, chứ không thì em cũng đem cho bò ăn.”
Nghe dì nói, lòng tôi vừa thương vừa bật cười, bởi sự đơn sơ, chất phác của con người nơi đây.
Giữa đời sống tu trì lặng lẽ, đôi khi là cô đơn và đầy thử thách, thì chính những tình cảm mộc mạc ấy lại trở thành nguồn nâng đỡ, tiếp thêm sức mạnh cho tôi. Qua sứ mạng của Hội dòng, sự hiện diện giữa bà con lương dân không còn là thử thách, mà đã trở thành một hồng ân quý báu.
“Ơn người dân dã ngọt ngào,
Con xin giữ mãi như là giữ tin.”
Nam Đông vẫn đang từng ngày thay da đổi thịt, như một bức tranh dần được tô điểm bằng những gam màu tươi sáng của niềm tin và hy vọng. Và chị em Con Đức Mẹ Đi Viếng, những sứ giả nhỏ bé của Chúa, vẫn đang âm thầm góp phần, dù bằng những điều đơn sơ nhất để vun đắp tình người và gieo mầm sự sống cho vùng đất thân thương này.
ANNA PHƯƠNG NHI
